5 tháng 5, 2010

Sáng mãi bộ đội Trường Sơn


Thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã đi qua trên một phần ba thế kỷ, nhưng cái tên đường Hồ Chí Minh - đường Trường Sơn vẫn mãi hiển hiện trong ký ức, trong tâm khảm của quân và dân ta như một sự kiện lịch sử hào hùng về một con đường huyền thoại góp phần quan trọng làm nên thắng lợi vĩ đại của dân tộc.
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ở miền Nam không những không thực hiện những điều đã cam kết trong Hiệp định mà còn thẳng tay đàn áp cách mạng miền Nam và âm mưu “Bắc tiến”, xoá bỏ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta ở miền Bắc Việt Nam.
Trước mưu đồ xấu xa và hành động tàn bạo của kẻ thù, Đảng ta phải có đường lối chiến lược và phương pháp cách mạng phù hợp để lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc. Tháng 1-1959, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15 (khoá II) mở rộng do Chủ tịch Hồ Chí minh chủ trì, họp tại Hà Nội. Hội nghị xác định: Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là giải phóng miền Nam; phương pháp cách mạng và phương thức đấu tranh là dùng bạo lực cách mạng, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc, phong kiến; trước mắt là đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ, thiết lập chính quyền cách mạng. Nghị quyết còn chỉ ra phương hướng xây dựng lực lượng vũ trang trên hai miền Nam-Bắc; giao nhiệm vụ cho quân đội chủ động chuẩn bị mọi mặt, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu phát triển của sự nghiệp cách mạng.
Để phát triển lực lượng cách mạng ở miền Nam thì ngoài xây dựng lực lượng tại chỗ, rất cần sự chi viện sức người, sức của từ hậu phương miền Bắc. Chấp hành Nghị quyết của Trung ương, Tổng quân uỷ Trung ương đã đẩy mạnh xây dựng quân đội cách mạng chính quy, từng bước hiện đại trên miền Bắc, đồng thời xúc tiến chuẩn bị lực lượng và vật chất cho chiến trường miền Nam.
Theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 15 (khoá II), Bộ Chính trị quyết định tổ chức tuyến giao liên vận tải quân sự trên bộ và trên biển. Đây là quyết định đúng đắn, sáng tạo, thể hiện quyết tâm sắt đá giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.
Ngày 5-5-1959, Trung tướng Nguyễn Văn Vịnh, Uỷ viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Chủ nhiệm Uỷ ban thống nhất Trung ương, thừa lệnh Bộ Chính trị trực tiếp giao cho Thượng tá Võ Bẩm, Nguyên Cục phó Cục Nông trường tổ chức “Đoàn công tác quân sự đặc biệt” làm nhiệm vụ mở đường vận chuyển hàng quân sự vào miền Nam; tổ chức đưa, đón bộ đội, cán bộ; chuyển công văn, tài liệu từ Bắc vào Nam, từ Nam ra Bắc. Khi mới thành lập, cơ quan chỉ đạo tổ chức mọi hoạt động của Đoàn là Ban Cán sự Đảng.
Ngày 19-5-1959, Thường trực Tổng Quân uỷ triệu tập Ban Cán sự, chính thức giao nhiệm vụ cho Đoàn mở đường Trường Sơn, chi viện cho chiến trường miền Nam. Trong năm 1959, đoàn có nhiệm vụ soi đường, bảo đảm giao thông liên lạc từ miền Bắc vào miền Nam; vận chuyển gấp một số hàng quân sự theo yêu cầu của Liên khu 5; tổ chức đảm bảo cho 500 cán bộ hành quân vào chiến trường làm nòng cốt xây dựng lực lượng chủ lực. Với ý đồ chiến lược bí mật, chủ động tiến công, Bộ Chính trị, Tổng Quân uỷ yêu cầu Đoàn tuyệt đối giữ bí mật, không để đối phương biết được sự chi viện của miền Bắc đối với miền Nam, dù chỉ là một hoạt động nhỏ lẻ. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc.
Dẫu biết rằng mọi con đường cách mạng đều xuất phát từ lòng dân, dựa vào dân, song do yêu cầu bảo đảm bí mật trong buổi đầu mở tuyến, ta không chỉ chủ trương tránh địch mà tạm thời phải tránh dân. Cán bộ, chiến sỹ được phổ biến sẽ vào Nam làm nhiệm vụ cũng phải tuyệt đối giữ bí mật với cả người thân trong gia đình. Trên đường hành quân, khẩu hiệu có tính mệnh lệnh lúc này là: “Ở không nhà, đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”.
Biên chế lúc đầu của Đoàn Trường Sơn là 500 cán bộ, chiến sỹ. Ngoài đoàn bộ, có tiểu đoàn vận tải 301 và các bộ phận xây dựng kho, bao gói hàng, sửa chữa vũ khí, chế biến thực phẩm… Đoàn tập kết tại khu vực Khe Hó với danh nghĩa là “Công trường khai thác gỗ” và “Nông trường chăn nuôi bò” để giữ bí mật khi làm nhiệm vụ.
Ngày 13-8-1959, chuyến hàng đầu tiên vượt Trường Sơn vào Nam. Với quyết tâm giành thắng lợi trận đầu, cán bộ, chiến sỹ các cung, trạm đã không quản núi cao, suối sâu, đêm tối để đưa hàng tới đích. Sau 8 ngày đêm, chuyến hàng đầu tiên đã được tiểu đoàn 301 chuyển tới Tà Riệp, đảm bảo tuyệt đối bí mật, an toàn. Cán bộ, chiến sỹ Liên khu 5 vô cùng phấn khởi và xúc động khi được tiếp nhận sự chi viện của hậu phương miền Bắc. Đến hết tháng 8-1959, đoàn đã chuyển giao cho Liên khu 5 được 60 súng trung liên, 100 súng tiểu liên, súng trường và hàng ngàn viên đạn súng bộ binh. Tuy số lượng chưa nhiều, nhưng những chuyến hàng thể hiện tình dân, ý Đảng, tình cảm của Bác Hồ, tình cảm của quân dân miền Bắc gửi tới đồng bào và chiến sỹ miền Nam.
Ngày 12-9-1959, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 46/QĐ-QP, chính thức thành lập Đoàn 559 trực thuộc Bộ Quốc phòng. Tuyến hành lang giao liên vận tải quân sự Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh thực sự là cầu nối giữa hậu phương lớn miền Bắc với chiến trường miền Nam; vừa soi lối mở đường, vận chuyển vũ khí, trang bị, đưa cán bộ, chiến sỹ từ Bắc vào Nam chiến đấu. Tuy lúc đầu còn ít ỏi về số lượng, nhưng nó có ý nghĩa vô cùng lớn lao trong việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, trực tiếp góp phần đưa cách mạng miền Nam phát triển lên một cao trào mới – cao trào Đồng Khởi (1960). Đây là bước ngoặt lịch sử của cách mạng miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Trung ương Đảng, Tổng Quân uỷ, Bộ Quốc phòng luôn theo dõi sát sao từng bước đi của Đoàn 559. Trong thư gửi Ban Cán sự Đoàn 559 nhân dịp Xuân Canh Tý (1960), Tổng Quân uỷ đánh giá: “… Các đồng chí đã đảm nhận một nhiệm vụ rất vinh quang, góp phần cống hiến rất cụ thể vào sự nghiệp đấu tranh hoàn thành giải phóng dân tộc của nhân dân ta…”
Cùng với sự lớn mạnh của sự nghiệp cách mạng, đường Trường Sơn cũng nhanh chóng phát triển cả về lượng và chất. Chỉ sau vài năm hình thành, được sự giúp đỡ của Đảng Nhân dân Cách mạng và các Bộ tộc Lào, Đoàn 559 đã “lật cánh” sang Tây Trường Sơn, mở tuyến chi viện cho chiến trường miền Nam qua đất bạn. Từ đây, đường Trường Sơn không còn thế độc tuyến Đông Trường Sơn, không còn đơn thuần là gùi thồ nội địa dọc theo biên giới mà đã mở thêm hàng trăm km đường ở Tây Trường Sơn cho cuộc vận chuyển bằng xe cơ giới.
Để tiếp tục duy trì cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam, tháng 3-1964, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn thông qua kế hoạch Giôn-xơn-Mắc-na-ma-ra, thực chất là tăng cường sự chỉ huy trực tiếp của Mỹ, tăng viện trợ hậu cần, kỹ thuật cho quân đội Sài Gòn; dùng không quân đánh phá miền Bắc Việt Nam và Lào nhằm phá hoại tiềm lực kinh tế và làm nao núng quyết tâm giải phóng miền Nam, buộc miền Bắc phải ngừng chi viện cho miền Nam. Kế hoạch “OPLAN-37” sau đó 1 tháng (4-1964) đã cụ thể hoá việc đánh phá của Mỹ-Nguỵ vào con đường thâm nhập của “Việt Cộng” từ miền Bắc vào (qua cả biên giới Lào và Campuchia) với cường độ ngày càng ác liệt.
Phát hiện sự phát triển mới của tuyến chi viện - Đường mòn Hồ Chí Minh, máy bay Mỹ đã trinh sát tuyến đường suốt ngày đêm, kết hợp thả thám báo, biệt kích dò la, chỉ điểm; đồng thời tăng cường đánh phá các cung đường, săn đuổi đội hình vận chuyển bằng cơ giới của quân đội ta…
Mặc dù gặp nhiều khó khăn và chịu đựng biết bao gian khổ, hy sinh, nhưng cùng bộ đội và nhân dân ta, những người lính Trường Sơn đã quả cảm, sáng tạo, vượt lên tất cả và tạo được những kỳ tích Anh hùng trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của dân tộc.
9 sư đoàn của Bộ Tư lệnh Trường Sơn (gồm 4 sự đoàn công binh, 2 sư đoàn xe ô tô, 1 sư đoàn phòng không, 1 sư đoàn bộ binh, 1 sư đoàn chuyên gia cố vấn) và 21 trung đoàn trực thuộc đã tham gia chiến dịch Tây Nguyên và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Lực lượng cầu đường với 4 sư đoàn công binh và hơn 1 vạn thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến, công nhân giao thông nguyện làm “Tường đồng, vách sắt” kiên cường bám trụ, giành lại từng thước đường, “Máu có thể đổ, nhưng đường không thể tắc”. Lực lượng vận tải với 2 sư đoàn ô tô vận tải đã hoàn thành một đại công trình vận tải chiến lược. Trong cuộc chiến đấu quyết liệt này, cán bộ, chiến sỹ lái xe, thợ máy xứng đáng với danh hiệu “Gan vàng, dạ ngọc”; “Còn người, còn xe, còn hàng”. Lực lượng đường ống xăng dầu, từ những đơn vị nhỏ phải dùng sức người gùi, vần, kéo từng phuy xăng dầu trọng điểm, chịu thương vong lớn để chuyển xăng vào tuyến đã hình thành 4 trung đoàn làm đường ống với trên 7.600 người, xây dựng được 1.400 km đương ống xăng, dầu nối từ tuyến hậu phương miền Bắc tới Bù Gia Mập-Bình Phước… đảm bảo xăng dầu cho các chiến dịch. Lực lượng bộ binh nhanh chóng hình thành sư đoàn, làm tốt công tác bảo vệ đường, tiêu diệt hàng ngàn tên địch và phá huỷ nhiều phương tiện chiến tranh của chúng. Lực lượng pháo phòng không từ những đơn vị nhỏ đã sớm phát triển những lực lượng chiến đấu gồm 1 sư đoàn và 9 trung đoàn pháo cao sạ, bắn rơi nhiều máy bay địch, xứng đáng với danh hiệu “Đánh giỏi, bắn trúng”…
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngoài những đóng góp to lớn vào các chiến dịch lớn như chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Hồ Chí Minh… Bộ đội Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh đã làm nên những kỳ tích trên con đường huyền thoại này:
- Đào đắp, san lấp khoảng 29 triệu mét khối đất đá; xây dựng 5 hệ thống đường trucå dọc, 21 đường trục ngang ở Đông và Tây Trường Sơn với chiều dài gần 2 vạn km; 1 tuyến đường “kín” dài 3.140 km; hệ thống đường sông dài 500 km; làm nên con đường Trường Sơn dài 1.700 km từ Tân Kỳ - Nghệ An đến Lộc Ninh - Bình Phước.
- Xây dựng hệ thống đường ống xăng, dầu dài 1.400 km, nối từ tuyến hậu phương ở Quảng Bình, Vĩnh Linh vào tới Bù Gia Mập-Bình Phước. Từ 1968 - 1975 đã nhập vào tuyến 317.596 tấn, trong đó cấp phát cho các chiến trường 61.064 tấn.
- Xây dựng trên 4.000 km đường dây trần dùng cho tải ba; 11.569 km đường dây bọc thông tin hữu tuyến; 384 km dây cáp..
- San lấp 78.000 hố bom, phá 12.600 quả bom từ trường, 8.000 bom nổ chậm, 85.100 mìn các loại; đánh 2.500 trận bộ binh, loại khỏi vòng chiến đấu 18.740 tên địch, bắt sống 1.190 tên; thu và phá huỷ hơn 100 xe quân sự, hàng ngàn súng các loại; bắn rơi 2.455 máy bay các loại…
- Vận chuyển, tổ chức hành quân hơn 2 triệu lượt bộ đội, cán bộ Dân-Chính-Đảng vào, ra qua Trường Sơn; vận chuyển tới các chiến trường hơn 1 triệu tấn vật chất, kỹ thuật…
Trong cuộc chiến đấu gay go, quyết liệt này, gần 20.000 cán bộ, chiến sỹ Bộ đội Trường Sơn đã anh dũng hy sinh; hơn 32.000 đồng chí bị thương… Quân và dân ta vô cùng ngưỡng mộ và tự hào về những chiến công và đóng góp to lớn của các anh, các chị vào sự nghiệp giải phóng vẻ vang của dân tộc.
Mùa xuân năm 1973, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng vào thăm Bộ đội Trường Sơn, ghi trong cuốn sổ vàng truyền thống Bộ đội Trường Sơn: “Đường Trường Sơn là một chiến công chói lọi trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta. Đường Trường Sơn là con đường của ý chí quyết thắng, của lòng dũng cảm, của khí phách Anh hùng. Đó là con đường nối liền Nam-Bắc, thống nhất nước nhà, là con đường của tương lai giàu có của Tổ quốc ta. Đó là con đường đoàn kết của các dân tộc ba nước Đông Dương. Đường Trường Sơn nhất định sẽ kéo dài và mở rộng. Chúng ta nhất quyết đi tiếp con đường đó cho đến thắng lợi hoàn toàn.
Quang vinh thay Bộ đội Trường Sơn Anh hùng đã chiến đấu và chiến thắng trên con đường mang tên Bác Hồ vĩ đại…”.
Sau Đại thắng mùa Xuân 1975, Bộ đội Trường Sơn tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của mình trong điều kiện mới: Bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Tháng 10-1977, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Binh đoàn 12 (Binh đoàn xây dựng kinh tế), trên cơ sở lực lượng chủ yếu của Bộ đội Trường Sơn và thêm một số đơn vị bộ binh; nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng cơ bản, xây dựng các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện, đường giao thông trên các vùng chiến lược quan trọng của đất nước. Đến năm 1979, Binh đoàn 12 lại có mặt ở những nơi khó khăn, công việc khó khăn trải rộng trên địa bàn 21 tỉnh, thành trong nước và 5 tỉnh của nước bạn Lào. Đó là những địa bàn rừng núi xa xôi, hẻo lánh, các vùng chiến lược quan trọng, làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng. Từ đầu 1989, thực hiện chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế trong sự nghiệp đổi mới, Binh đoàn 12 và Tổng Công ty Xây dựng Trường Sơn đã thực hiện các ngành nghề kinh doanh chủ yếu là: Xây dựng công trình giao thông, thuỷ lợi, thuỷ điện, công trình công nghiệp, dân dụng; xây dựng, kinh doanh nhà và bất động sản, khảo sát thiết kế và tư vấn xây dựng; trồng, chế biến, kinh doanh sản phẩm cây công nghiệp…
Với định hướng đúng đắn và sự nỗ lực phấn đấu của cán bộ, chiến sỹ, công nhân viên chức, lao động quốc phòng, Tổng Công ty đã từng bước phấn đấu vươn lên tự khẳng định mình. Qua 20 năm (1989-2009) xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng, đơn vị đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ là: Giá trị sản lượng không ngừng tăng, bình quân từ 15 – 20%/năm (năm 1989 mới chỉ đạt 38,5 tỷ đồng; đến năm 2007 đã đạt trên 1.600 tỷ đồng, tăng gấp 41 lần); thực hiện đầy đủ nộp ngân sách với Nhà nước; thu nhập bình quân người lao động bằng 1,4 – 1,6 lần lương quốc phòng. Vốn của Tổng Công ty được bảo toàn và phát triển, hoạt động tài chính lành mạnh, có hiệu quả; lợi nhuận hàng năm đạt 2 – 2,5% trên giá trị doanh thu.
Hiện nay Binh đoàn 12 đang tham gia thi công một số công trình lớn của Nhà nước như: Thuỷ điện Sơn La, Thuỷ điện Bản Chát (Lai Châu), Thuỷ điện Buôn Kuốp, Buôn Tua Srah, Srêpốk 3 (Đăk Lăk); xây dựng đường cao tốc Nội Bài-Bắc Ninh, Cầu Giẽ-Ninh Bình; Đường Trường Sơn Đông; Quốc lộ 279, đường tuần tra biên giới, đường TP.Hồ Chí Minh-Trung Lương; Quốc lộ 78 - Campuchia… Các công trình đơn vị đang thi công đều đảm bảo tiến độ và chất lượng, được chủ đầu tư đánh giá cao, đặc biệt là các dự án thuỷ điện… Đó là những kết quả rất đáng mừng để Binh đoàn 12, Tổng Công ty Xây dựng Trường Sơn tiếp tục vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.
Kỷ niệm 50 năm truyền thống Bộ độ Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh lịch sử là một trong những sự kiện lớn kỷ niệm 30-4, ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, là dịp để chúng ta phát huy tinh thần đoàn kết, ý chí quyết tâm “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, tiếp tục vượt qua những khó khăn, thử thách trước mắt, hoàn thành thắng lợi những mục tiêu kinh tế-xã hội mà Đảng, Nhà nước đã đề ra trong năm 2009 và những năm sắp tới./.
(Nguồn Tạp chí Ban Tuyên giáo)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét