30 tháng 3, 2010

Chủ tịch Tôn Đức Thắng


I. Khái lược về tiểu sử và cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Tôn Đức Thắng
1. Quê hương, gia đình, thời niên thiếu:

Quê hương đồng chí Tôn Đức Thắng là Cù lao Ông Hổ, xã Mỹ Hòa Hưng, tổng Định Thành, tỉnh Long Xuyên (nay là thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang).
Đồng chí Tôn Đức Thắng sinh ra trong một gia đình nông dân khá giả. Thân phụ là cụ Tôn Văn Đề và thân mẫu là cụ Nguyễn Thị Dị, đều là những nông dân cần cù, hiền lành, chất phác. Thời thơ ấu, đồng chí được gia đình cho học chữ Nho, chữ quốc ngữ và chữ Pháp.
Năm 1907, Tôn Đức Thắng lên Sài Gòn học việc và dự kiến thực hiện hoài bão của mình. Ý chí tự lập ngay từ khi tuổi còn trẻ là nét độc đáo góp phần tạo nên tính cách toàn diện của Tôn Đức Thắng sau này.

2. Cuộc đời hoạt động cách mạng
Việc Tôn Đức Thắng rời quê hương lên Sài Gòn, chọn con đường trở thành người thợ là bước ngoặt đầu tiên trong cuộc đời. Lý tưởng, khát vọng làm những việc hữu ích cho đất nước, dân tộc và giai cấp thôi thúc anh hành động. Trong anh, đã hình thành sự kết hợp tư tưởng yêu nước với tư tưởng cách mạng.
Năm 1909, anh tham gia vận động anh em học sinh lính thủy bỏ học; năm 1910 tham gia vận động anh chị em công nhân Sở Kiến trúc Cầu đường và Nhà ở Sài Gòn chống bọn chủ cúp phạt, đánh đập vô lý và đòi tăng lương; năm 1912 tham gia lãnh đạo cuộc bãi công của công nhân Ba Son và vận động học sinh trường Bá nghệ Sài Gòn bãi khóa. Năm 1915, anh vào học trường Cơ khí Châu Á ở Sài Gòn (trường Bá nghệ Sài Gòn).
Năm 1916, Tôn Đức Thắng bị động viên trở thành lính thợ làm việc trên chiếm hạm France. Việc Tôn Đức Thắng tham gia vào sự kiện kéo cờ đỏ trên chiến hạm France ở Biển Đen tháng 4/1919 có ý nghĩa lớn bởi anh là người Việt Nam đầu tiên dũng cảm tham gia bảo vệ chính quyền Xô-viết trẻ tuổi và Cách mạng Tháng Mười Nga vào thời điểm quan trọng.
Sau vụ binh biến ở Biển Đen, bị trục xuất khỏi nước Pháp, Tôn Đức Thắng trở về Sài Gòn tiếp tục tham gia hoạt động nghiệp đoàn và trở thành người tổ chức và lãnh đạo Công hội bí mật năm 1920, Công hội đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam.
Năm 1927, Tôn Đức Thắng được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, được cử làm Ủy viên Ban Chấp hành Kỳ bộ, Bí thư Thành bộ Sài Gòn.
Tháng 7/1929, đồng chí bị thực dân Pháp bắt giam ở khám lớn Sài Gòn, sau đó bị kết án 20 năm khổ sai, tháng 7/1930, bị đày ra Côn Đảo. Tại đây, đồng chí đã tham gia vận động thành lập chi bộ cộng sản nhà tù Côn Đảo và là một trong những chi ủy viên đầu tiên.
Ngày 23/9/1945, đồng chí từ Côn Đảo trở về và ngày 15/10/1945 được bầu vào Xứ ủy Nam kỳ, phụ trách Ủy ban kháng chiến chỉ huy các lực lượng vũ trang Nam bộ. Tháng 12/1945, Ủy ban Kháng chiến Miền Nam Việt Nam và các khu 7, 8, 9 được thành lập, đồng chí được giao nhiệm vụ tổ chức hậu cần.
Ngày 06/01/1946, đồng chí được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa I. Ngày 16/4/1946, đồng chí làm Phó Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội sang thăm Pháp. Kết thúc kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I, đồng chí được bầu làm Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội.
Năm 1947, đồng chí được cử làm Tổng Thanh tra của Chính phủ. Ngày 30/4/1947, đồng chí được giao đảm nhiệm chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Tháng 01/1948, đồng chí được cử làm Trưởng ban Trung ương Vận động thi đua ái quốc. Năm 1948, đồng chí giữ chức Quyền Trưởng ban Thường trực Quốc hội.
Ngày 17/5/1950, Hội Hữu nghị Việt - Xô được thành lập, đồng chí được bầu làm Chủ tịch Hội. Tháng 2/1951, đồng chí được bầu làm Chủ tịch Mặt trận Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Mặt trận Liên Việt). Tháng 9/1955, đồng chí được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Ngày 15/7/1960, đồng chí được bầu làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 02/9/1969, đồng chí được bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ngày 30/3/1980, đồng chí qua đời, hưởng thọ 92 tuổi.

II. Những cống hiến của Chủ tịch Tôn Đức Thắng với cách mạng Việt Nam và thế giới

1. Đồng chí Tôn Đức Thắng là người thành lập Công hội bí mật - tổ chức công hội đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam; góp phần quan trọng vào quá trình truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin và vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Vượt qua mọi khó khăn và sự kiểm soát của kẻ địch, năm 1920, đồng chí Tôn Đức Thắng tập hợp công nhân thành lập Công hội bí mật. Từ khi thành lập, Công hội đã liên tục lãnh đạo phong trào đấu tranh của công nhân ở Sài Gòn - Chợ Lớn. Thắng lợi của các cuộc đấu tranh đó có ý nghĩa chính trị rất lớn. Nó đánh dấu sự trưởng thành về ý thức đoàn kết giai cấp, đoàn kết quốc tế và tính tổ chức kỷ luật của giai cấp công nhân Việt Nam, đánh dấu sự chuyển biến của phong trào công nhân từ "tự phát" đi lên "tự giác", từ "giai cấp tự mình" vươn thành "giai cấp cho mình".
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930) khẳng định hoạt động tích cực của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và những học trò của Người trong sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin, phong trào yêu nước và phong trào công nhân. Tại Sài Gòn, quá trình đó diễn ra thuận lợi vì có sự hoạt động tích cực của Công hội do đồng chí Tôn Đức Thắng sáng lập. Công hội của đồng chí đã bắc nhịp cầu đưa chủ nghĩa Mác-Lênin đến với giai cấp công nhân.
2. Đồng chí Tôn Đức Thắng là một chiến sỹ cách mạng kiên cường.
Hình ảnh người chiến sỹ cộng sản Tôn Đức Thắng kiên cường, sáng ngời bản lĩnh và niềm tin tất thắng vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc đã làm các đồng chí đảng viên tù Côn Đảo ngưỡng mộ và làm kẻ thù khiếp sợ. Tấm gương người cộng sản kiên trung đó đã khẳng định: dù kẻ thù dùng mọi chính sách khủng bố cực kỳ dã man đến mấy cũng không thể nào ngăn cản được bước tiến của cách mạng, trái lại, nó trở nên một thứ lửa thử vàng, rèn luyện người chiến sỹ cách mạng càng thêm cứng rắn.
3. Đồng chí Tôn Đức Thắng là một cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước.
Cuộc đời và hoạt động của đồng chí Tôn Đức Thắng gắn liền với những thay đổi to lớn, nhanh chóng của đất nước, dân tộc và thời đại.
4. Tôn Đức Thắng là người tiêu biểu nhất cho chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Công lao của đồng chí Tôn Đức Thắng đã góp phần quan trọng vào việc thu hút trí lực của toàn dân tham gia sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Hình ảnh đồng chí Tôn Đức Thắng trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc rất sâu đậm bởi đức độ và uy tín của đồng chí.
5. Đồng chí Tôn Đức Thắng là một chiến sỹ quốc tế trong sự nghiệp đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Tính từ sự kiện năm 1919 đến khi từ trần, đồng chí Tôn Đức Thắng đã có trên 60 năm với nhiều cống hiến trọn vẹn, liên tục, có hiệu quả cho phong trào cách mạng thế giới, xứng đáng là một trong những nhà lãnh đạo tiêu biểu nhất cho tinh thần quốc tế cao cả, trong sáng, thủy chung, đã được bạn bè thế giới ghi nhận và đánh giá cao.
(Nguồn Huyện đoàn Tân Phú - An Giang)

1 nhận xét:

  1. mọi thành quả hôm nay chính là nhờ phần to lớn của bác đóng góp cho sự nghiệp cách mạng vn.

    Trả lờiXóa