19 tháng 3, 2010

Đại tướng Văn Tiến Dũng

Đại tướng Văn Tiến Dũng (2/5/1917 – 2002), nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, nguyên Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (1954 – 1978), nguyên Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Sau Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông là vị tướng chiến lược số hai của Việt Nam, được giới quân sự Thế giới đánh giá cao.
Huân chương Sao vàng (1995), Huân chương Hồ Chí Minh (1979), Huân chương Quân công hạng Nhất – Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất – Nhì – Ba, Huy chương Quân kỳ quyết thắng. Ngoài ra ông còn được tặng thưởng Huy hiệu Hồ Chí Minh (1967), Huân chương Tự do hạng Nhất của Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Huân chương Ăng-co của Nhà nước Căm-pu-chia.
"Đồng chí Văn Tiến Dũng là một trong những tướng lĩnh tài năng xuất sắc của quân đội ta, là người học trò ưu tú của Chủ tịch Hồ Chí Minh". (Đại tướng Võ Nguyên Giáp)
Ông được phong Thiếu tướng ngay trong đợt phong Quân hàm đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam (1948), Thượng tướng 1959 – là Thượng tướng thứ hai của Quân đội Nhân dân Việt Nam, Đại tướng năm 1974.
Đại tướng Văn Tiến Dũng (Lê Hoài) quê tại xã Cổ Nhuế (xưa gọi là Kẻ Noi), huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Ông sinh năm 1917, là năm của Cách mạng tháng Mười Nga.
Nhà nghèo, không ruộng đất, mẹ mất sớm, ông theo cha ra Hà Nội sinh sống. Tại Hà Nội, cha ông làm bảo vệ tại nhà thương Phủ Doãn (nay là Bệnh viện Việt – Đức).
Đến tuổi đi học, ông trở lại quê theo học tại Đông Ngạc, cách nhà 3 cây số. Sinh trưởng trong một gia đình nghèo khó cho nên ông rất cố gắng học hành.
Khi 15 tuổi, cha đột ngột qua đời, ông đành phải bỏ học, ở nhà trợ giúp cho anh làm nghề thợ may. Dẫu không đến lớp, nhưng Văn Tiến Dũng vẫn tranh thủ lúc rảnh rỗi, mua sách về tự học thêm các môn Lịch sử, Pháp văn, Văn học...
Năm 1935, nhằm bớt gánh nặng cho anh chị, 17 tuổi, Văn Tiến Dũng xin anh cho ra Hà Nội làm công cho các xưởng dệt Thanh Văn (Hàng Đào), sau chuyển sang xưởng Đức Xương Long, Cự Chung (Hàng Bông). Hàng ngày ông phải làm việc 10 giờ bất kể Chủ nhật, có hôm bị chủ bắt làm tới 12 giờ. Cũng chính trong những ngày tháng gian lao, cực nhọc này, Văn Tiến Dũng được giác ngộ và bước chân vào cuộc đời cách mạng, nhanh chóng trở thành một chiến sĩ xuất sắc.
Tháng 11/1937, ông được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương. Cuối năm 1938, ông được cử làm Bí thư chi bộ ngành thợ dệt Hà Nội. Năm 1939, ông được cử làm Thư ký Ban thường trực Liên đoàn lao động Hà Nội và tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hà Nội.
Năm 1936, ông tham gia phong trào đấu tranh công khai của công nhân Hà Nội. Tháng 12/1936, ông tham gia tổ chức cuộc bãi công đầu tiên của công nhân xưởng dệt Hà Nội.
Tháng 7/1939, ông bị Thực dân Pháp bắt, nhưng do không có bằng chứng nên chúng buộc phải thả ra sau 3 ngày giam giữ. Hai tháng sau, ông lại bị Thực dân Pháp bắt giam, bị kết án 2 năm tù về tội tàng trữ tài liệu, sách báo, tuyên truyền các khẩu hiệu của Đệ tam Quốc tế và gây rối trị an.
Tháng 11/1939, ông cùng một số chiến sĩ cách mạng bị Pháp đày đi nhà tù Sơn La. Vượt qua mọi gian nguy, hà khắc của nhà tù thực dân, hai năm sau, trên đường bị địch áp giải từ Sơn La về Hà Nội để đưa vào trại tập trung, ông đã nhanh trí trốn thoát.
Ngay sau khi thoát nhà tù Thực dân Pháp, ông tìm mọi cách bắt liên lạc với tổ chức mà đại diện là “Anh to đầu” – người thợ in Nguyễn Văn Đáng, tức Trần Đăng Ninh (sau này là Tổng cục trưởng Tổng cục cung cấp Quân đội Nhân dân Việt Nam), một trong những cán bộ kiệt xuất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ít lâu sau, ông Trần Đăng Ninh bị bắt và Văn Tiến Dũng bị mất liên lạc hoàn toàn với tổ chức.
Không trở về quê vì đang bị Thực dân Pháp truy lùng, ông quyết định rủ Nguyễn Tiến Lãng – Cũng là một chiến sĩ hoạt động tích cực trong thời kỳ 1936 – 1939 (thời kì của Mặt tộc dân chủ), chưa bị lộ tung tích – về Hà Đông để vừa gây dựng phong trào và chờ dịp nối liên lạc với Trung ương.
Cùng với Nguyễn Tiến Lãng, ông sắm vai thợ mộc đi về các làng xóm sửa chữa vặt các đồ gỗ, đồng thời khéo léo tuyên truyền cách mạng. Sau đó ông làm mướn cho một bà cụ chuyên bán hàng ở chợ Nứa (mỗi tháng 6 phiên, làng Đoan Nữ, Mỹ Đức, Hà Tây). Lúc rảnh rỗi, Văn Tiến Dũng rủ con trai bà chủ la cà vào trong xóm kết bạn với trai làng cho đến khi thân thì lựa lời giác ngộ họ. Chẳng bao lâu sau, chi bộ Đảng vùng này được thành lập và lan sang cả làng bên (Vĩnh Lạc).
Trong thời gian này, ông còn giác ngộ được Lý Bảng khiến cho gia đình Lý Bảng trở thành một cơ sở của Việt Minh – tên thật là Nguyễn Viết Bảng, lý trưởng làng Vĩnh Lạc, một người có học thức, yêu thơ văn, yêu nước và căm ghét Thực dân Pháp.
Những hoạt động của ông khi làm thuê cho bà cụ chủ hàng bị để ý bởi mật thám, được sự giúp đỡ của Lý Bảng, ông tạm thời xuống tóc đi tu tại ngôi chùa bỏ hoang Bột Xuyên thuộc huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây nhằm che mắt mật thám tiếp tục bám cơ sở để tuyên truyền Cách mạng. Lúc này ông 25 tuổi.
Tháng 3/1943, ông bắt được liên lạc với Đảng và được chỉ định làm Bí thư Ban cán sự Đảng tỉnh Hà Đông. Tháng 6/1943, ông được chỉ định tham gia Xứ ủy Bắc Kỳ.
Ngày 8/1/1944, ông làm Bí thư Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh. Tháng 4 /1944, ông được cử làm Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ. Sau khi kết thúc một khóa học về Quân sự tại An toàn khu, tháng 8/1944, ông bị thực dân Pháp bắt lần thứ 3.
3 giờ sáng ngày 27/12/1944, ông đã dũng cảm vượt ngục. Chỉ ít ngày sau, Tòa án thực dân ở Bắc Ninh đã kết án ông tử hình vắng .
Tháng 4 năm 1945 trong Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ do Trung ương Đảng triệu tập, ông được cử vào Ủy ban quân sự cách mạng Bắc Kỳ (Bộ tư lệnh miền Bắc Đông Dương) cùng với các ông Võ Nguyên Giáp, Trần Đăng Ninh, Lê Thanh Nghị, Chu Văn Tấn. Đồng thời được chỉ thị trong thường trực của Ủy ban hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thường vụ Trung ương Đảng và phụ trách trực tiếp chấn chỉnh tổ chức Chiến khu Quang Trung gồm các tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, thành lập các đơn vị Cứu quốc quân, chuẩn bị và tiến hành Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám giành chính quyền ở các tỉnh kể trên.
Tháng 8/1945, ông chỉ đạo vũ trang giành chính quyền ở các tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa.
Sau cách mạng tháng Tám, tháng 11 năm 1945, ông được giao nhiệm vụ lập Chiến Khu II (gồm 8 tỉnh phía Tây Bắc và Tây Nam Bắc Bộ), làm Chính ủy chiến khu, tham gia Quân ủy Trung ương vừa chỉ đạo một số đơn vị của khu “Nam tiến” đánh Pháp, vừa chỉ đạo các cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp từ Vân Nam (Trung Quốc) và từ Sầm Nưa (Lào) tiến công vào Lai Châu, Sơn La.
Tháng 12/1946, ông là Cục trưởng Cục Chính trị Quân đội Quốc gia Việt Nam, Phó bí thư Quân ủy Trung ương. Ngày 25 /1/1948, ông được phong quân hàm thiếu tướng.
Từ tháng 10/1949 đến năm 1950, ông là Chính ủy Liên khu 3, kiêm Tư lệnh liên khu, tham gia Thường vụ Khu ủy Khu 3. Tháng 1 năm 1951, sau chiến dịch giải phóng Biên giới Việt-Trung, ông được Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Bộ Tổng tư lệnh cử ra thành lập và làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Đại đoàn chủ lực 320 (Đại đoàn Đồng Bằng) một đại đoàn hoạt động trong vùng địch kiểm soát ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.
Tháng 11 năm 1953, sau chiến dịch phản công liên tiếp của quân và dân ta đánh bại cuộc hành quân Hải Âu của quân đội Pháp ra tây nam Ninh Bình kết thúc, ông giữ chức Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam và tham gia Tổng quân ủy và là Tổng tham mưu trưởng lâu nhất tính cho đến hiện nay (thay Đại tướng Hoàng Văn Thái).
Năm 1954, ông là Trưởng đoàn đại biểu của Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam trong Ủy ban Liên hiệp đình chiến thi hành Hiệp định Giơ ne vơ.
Từ năm 1954 đến năm 1978, ông là Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong kháng chiến chống Mỹ, ông đã cùng các ông trong Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo trực tiếp việc tổ chức huấn luyện xây dựng lực lượng vũ trang. Đặc biệt đã xây dựng và chỉ đạo các lực lượng phòng không-không quân, hải quân làm nòng cốt cho chiến tranh nhân dân của ta đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ ra miền Bắc Việt Nam.
Ông, trực tiếp chỉ đạo các chiến dịch:
- Đường 9 Nam Lào (mùa Xuân 1971) đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 của Quân đội Việt Nam Cộng hòa và quân Mỹ nhằm phá hủy các đơn vị hậu cần dọc biên giới Việt Lào của miền Bắc chi viện cho miền Nam nhằm cắt đường chiến lược Hồ Chí Minh.
- Trị Thiên (3/1972) tiêu diệt sư đoàn quân đội Việt Nam Cộng hòa cùng toàn bộ hệ thống phòng ngự của chúng giải phóng tỉnh Quảng Trị.
- Điện Biên Phủ trên không (12/1972) đánh bại cuộc tập kích đường không của Mỹ đối với miền Bắc Việt Nam (12/1972) đập tan huyền thoại B52 của Đế quốc Mỹ buộc Mỹ phải ngồi vào phòng đám phán tại Paris 1973 và rút quân khỏi miền Nam Việt Nam.
- Chiến dịch giải phóng Tây Nguyên (1975), trong chiến dịch này ông thay mặt Bộ Chính trị chỉ đạo chiến dịch (Tư lệnh chiến dịch là Trung tướng Hoàng Minh Thảo, Chính ủy là Đại tá Đặng Vũ Hiệp).
- Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh (4/1975), giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Chiến dịch Hồ Chí Minh là một trong những đỉnh cao trong đường binh nghiệp của ông, được giới quân sự trên Thế giới đánh giá cao vì chiến dịch đã giải phóng Sài Gòn trong một thời gian ngắn, trong hiện trạng gần như nguyên vẹn. Trong khi Quân đội Sài Gòn tập trung ở đây một lượng lớn lực lượng cũng như binh khí kĩ thuật. Với kinh nghiệm của một vị tướng đã dạn dày trận mạc, ông đã chỉ đạo những lối đánh táo bạo, thọc sâu, kết hợp vu hồi, đột phá, biết tạo thời cơ, nắm thời cơ, chủ động tiến công tiêu diệt địch, giải phóng Sài Gòn-Gia Định, giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Từ tháng 5/1978 đến năm 1986, ông được Bộ Chính trị Trung ương Đảng giao nhiệm vụ là, Phó bí thư thứ nhất Quân ủy Trung ương. Tháng 2/1980 đến 1986 ông là Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng.Từ năm 1984 đến 1986 ông là Bí thư Đảng uỷ Quân sự Trung ương.
Ông là tác giả của nhiều tác phẩm về quân sự như "Mấy vấn đề về nghệ thuật quân sự Việt Nam"...
Ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa II (2/1951); Ủy viên Trung ương, Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị khóa III (3/1960); Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng (3/1972). Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (12/1976), ông được bầu làm Ủy viên Trung ương Đảng và Ủy viên Bộ Chính trị.
Ông được bầu làm đại biểu Quốc hội và Ủy viên Hội đồng Quốc phòng từ khóa II (1960) đến khóa VII (1981 – 1986).
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (3/1982), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được phân công phụ trách chỉ đạo công tác Tổng kết kinh nghiệm chiến tranh và biên soạn lịch sử Quân đội.
Là Tổng Tham mưu trưởng của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong một thời gian dài, vị Tổng tham mưu trưởng lâu năm nhất (từ năm 1954 đến năm 1978), tên tuổi của ông luôn gắn liền với những chiến thắng lớn của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong hai cuộc Kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cùng với Đại tướng Võ Nguyên Giáp ông là một trong hai vị tướng chiến lược của Cách mạng Việt Nam được cả Thế giới biết đến. Trong kháng chiến chống Pháp, ông được cử làm Tổng tham mưu trưởng thay Đại tướng Hoàng Văn Thái (khi đó là Thiếu tướng) khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang diễn ra quyết liệt ở giai đoạn cuối. Sau 9 năm kháng chiến trường kì, Quân đội ta đã trưởng thành vượt bậc. Cách tác chiến của ta không còn là ở ‘Tiểu đoàn tập trung, đại đội độc lập’ nữa mà đã có những binh đoàn chủ lực, có khả năng đọ sức với những đơn vị được trang bị hiện đại Thực dân Pháp cũng như tiến hành những chiến dịch Quân sự trên một diện rộng quy mô toàn quốc. Tuy nhiên việc phối hợp tác chiến và đề ra chiến lược trên một quy mô rộng như vậy làm công tác tham mưu trở lên hết sức phức tạp và đặc biệt khi ta quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ, một chiến dịch quyết định thành công của công cuộc kháng chiến 9 năm của cả dân tộc – Đại tướng Văn Tiến Dũng được cử làm Tổng tham mưu trưởng trong một hoàn cảnh như thế. Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, mặc dù không trực tiếp ra chiến dịch nhưng ở Căn cứ địa Việt Bắc ông trở thành một trong hai chỉ huy Quân sự cao nhất, tham mưu cho Bộ chính trị mở một loạt các chiến dịch nhằm hỗ trợ cho Chiến dịch Điện Biên Phủ. Tuy nhiên, trên Thế giới ông được biết đến nhiều hơn trong cuộc Kháng chiến Chống Mỹ cứu nước, khi trực tiếp chỉ đạo các chiến dịch lớn như Đường 9 Nam Lào (1971), Trị Thiên (1972), Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không (12/1972), Tây Nguyên (3/1975) và đặc biệt Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (4/1975). Trong con mắt của giới quân sự phương Tây thì ông luôn được xem như là một người cộng sự ăn ý của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về tư tưởng và ý đồ quân sự.
Gần 70 năm hoạt động cách mạng liên tục, kiên cường, Đại tướng Văn Tiến Dũng trở thành nhà quân sự chiến lược có uy tín của quân đội ta; là một trong những vị tướng chỉ huy xuất sắc; là người lãnh đạo đầy tinh thần cách mạng tiến công, đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến tranh nhân dân ta qua các cuộc kháng chiến và đối với nền khoa học nghệ thuật quân sự cách mạng Việt Nam.
Chính những năm tháng hoạt động cách mạng của ông cùng với các vị tướng tài ba của quân đội ta là những bước thể nghiệm thành công những vấn đề về lý luận quân sự của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện thực tiễn chiến tranh Việt Nam. Từ lý luận đến thực tiễn và từ thực tiễn bổ sung hoàn thiện thêm lý luận đã được Đại tướng thể hiện thành công qua các tác phẩm hồi ký, luận văn quân sự, những bài viết, huấn lệnh, chỉ thị… có giá trị trong quá trình chỉ đạo đấu tranh và tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.
(Nguồn Đoàn Đại học Ngoại thương)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét