24 tháng 2, 2010

Dương Văn Dương: Vị thiếu tướng đầu tiên ở Nam Bộ

Những năm gần đây, một số sách báo nhắc đến Dương Văn Dương – Tư lệnh Liên khu Bình Xuyên. Từ lâu có người cho rằng quê ông ở Nhà Bè, cũng có người tưởng ông là con rể của Bến Tre vì hiện có người con gái duy nhất của ông đang sinh sống ở Thạnh Phú. Nhưng trong nhiều tuyển tập của nhà văn Nguyên Hùng và bài viết của giáo sư-tiến sĩ Huỳnh Công Tín đăng báo Đồng Khởi số 2163 thì Dương Văn Dương là người con ưu tú của Bến Tre và là thiếu tướng đầu tiên ở Nam bộ.
Từ thời kháng chiến chống Pháp, Dương Văn Dương thường được bộ hạ thân thuộc cũng như đồng bào quen gọi với cái tên thân thương là “anh Ba Dương”.
Ba Dương – thủ lĩnh hàng đầu trong các thủ lĩnh của lực lượng Bình Xuyên, xưa kia là “giang hồ hảo hán”, nhưng khi đến với cách mạng trở thành người chỉ huy tài ba, mẫu mực và là phó tướng, cánh tay đắc lực của Trung tướng Nguyễn Bình.
Theo nhiều nguồn tài liệu được kiểm chứng, bước đầu xác định Dương Văn Dương là người gốc Bến Tre, xuất thân trong một gia đình nghèo ở cù lao Minh, con của ông Ngô Văn Mà và bà Dương Thị Biếu. Ông Ngô Văn Mà có tinh thần chống Tây, nên là đối tượng theo dõi của chính quyền Pháp thuộc. Mồ côi cha khi mới 3 tháng tuổi, Ba Dương mang họ mẹ và theo mẹ tha phương cầu thực. Mẹ đi bước nữa, người cha kế thương Ba Dương như con ruột và nuôi dưỡng, đùm bọc Dương Văn Dương thời niên thiếu ở cầu Rạch Đỉa, làng Tân Quy, huyện Nhà Bè (nay là quận 7, TP HCM).
Dương Văn Dương có tính tự lập cao và thích ngao du từ nhỏ. Hoàn cảnh nghèo nên ông nghỉ học sớm, xa gia đình khi vừa học xong cấp tiểu học nhưng vẫn lạc quan học ở trường đời và kiên trì trong cuộc sống lao động lương thiện, rày đây mai đó. Trong những năm sống lăn lộn ở khắp đồng ruộng Nhà Bè, Cần Giuộc, Cần Đước, Gò Công, Bến Tre… Ba Dương không hề ngán ngại gian khổ, luôn vui sống trong cảnh “điếm cỏ cầu sương”, hòa lòng với tiếng hò trên sông nước. Ngao du đây đó, nhưng mỗi khi nghe có ông thầy nào có miếng võ gia truyền “độc chiêu” là Ba Dương liền tới làm quen, xin làm đệ tử. Ba Dương có nhiều thầy nổi tiếng như thầy Ba Thi ở Chợ Lớn và thầy Sáu Lầu ở Bình Chánh rất giỏi quyền cước, thầy Bộ Dực ở Bình Khánh, Mỏ Cày, Bến Tre là bậc siêu đẳng về roi, … Nhờ vậy mà nghề võ của Ba Dương nổi trội hơn số anh chị ở Sài Gòn – Chợ Lớn.
Học được rồi thì truyền lại cho thanh niên quanh vùng. Dần dà dưới tay hảo hán Ba Dương có hàng trăm em út. Thời kỳ này, ở Nam bộ không chỉ có Ba Dương mà còn rất nhiều dân “anh chị” có “bệnh giang hồ” cũng muốn học làm hảo hán, theo gương những “anh hùng Lương Sơn Bạc”, như Hai Soái, Hai Vĩnh, Ba Bang, Ba Bay, Tư Ca Rê …
Năm 1936, khi người cha kế mất, Ba Dương trở về trụ lại ở cầu Rạch Đỉa làng Tân Quy, mở lò luyện võ và trở thành một võ hiệp giang hồ, dạy võ với tấm lòng giúp người dân lương thiện tự bảo vệ, không để ai ức hiếp. Tập hợp giới giang hồ mã thượng thực hiện tước đoạt của cải người giàu do bóc lột mà có để trang trải lại cho người nghèo. Riêng cuộc sống phong lưu của Ba Dương dựa vào mối khác: nghề “bảo hiểm bình dân” của giới anh chị là “bảo kê” cho dân thương hồ vận chuyển lương thực, hàng hóa từ lục tỉnh về Sài Gòn trên kinh Cây Khô.
Năm 1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ tác động sâu sắc đến cuộc đời của Ba Dương. Cuộc khởi nghĩa thất bại. Giặc Pháp đàn áp khốc liệt không những đối với cán bộ cách mạng mà cả với giới giang hồ. Năm 1941, Ba Dương bị Pháp bắt 2 lần và bị tra trấn dã man. Trong nhà tù của thực dân, Ba Dương mến phục tư cách các tù nhân chính trị nên chủ động làm quen và được tù chính trị cảm hóa. Ra tù, Ba Dương phải lánh mặt ở một vùng hẻo lánh thuộc biên giới Việt Nam – Campuchia. Năm 1943, Ba Dương lần mò trở lại Tân Quy. Một bước ngoặt đã mở ra trong đời Ba Dương khi ông được các đảng viên cộng sản như Ba Của, Hai Lân, Tư Huệ móc nối giác ngộ. Ba Dương thầu bảo vệ bãi chứa gỗ của hảng đóng tàu Ni-chi-năn (Nhật) làm chỗ dựa, tập hợp, cảm hóa các nhóm giang hồ và truy tầm vũ khí.
Dương Văn Dương có vóc người tầm thước, tính tình nghiêm nghị, ít nói, luôn có thái độ lễ phép, hòa nhã. Chính điều đó làm cho mọi người và số anh chị giang hồ phải kính nể. Thì ra, muốn làm anh chị không chỉ nhất thiết phải “hét ra khói, nói ra lửa” như những tay dao búa ở bến đò, bến xe. Điều căn bản là tài, đức phải đi đôi và Ba Dương hội đủ hai điều đó. Chẳng những thế, Ba Dương còn là người quân tử hiếm có.
Đang đứng giữ bến xe Tây Ninh – Nam Vang thì Tây ban hành tình trạng khẩn cấp, gom bắt hết các phần tử nguy hiểm như Cộng sản, Cao Đài, Hòa Hảo, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Tịnh Độ Cư Sĩ và bắt luôn dân giang hồ, Dương Văn Dương phải chạy về Cần Giuộc “chém vè”. Không thoát khỏi bọn chỉ điểm, Ba Dương bị bắt giải về quận. Tên chủ quận độc ác buộc Ba Dương nuốt cả một chùm tóc mới thả. Tóc cắt nhỏ uống vào người sẽ phá nát bộ tiêu hóa, gây cái chết lần hồi. Nhưng không còn cách nào khác, Ba Dương đành phải thi hành bản án. May mắn thay, Ba Dương có học trò trung thành lãnh về chạy thuốc gia truyền, nhờ đó mà không chết.
Dương Văn Dương dạy võ cho Thanh niên tiền phong Cần Giộc tham gia cướp chính quyền. Khi bị mất chính quyền, bọn làng lính kéo nhau đi trình diện. Chợt thấy Ba Dương nay là Chỉ huy trưởng bộ đội Dương Văn Dương, tên chủ quận mặt xanh như tàu lá, quỳ lại Dương Văn Dương như tế sao. Nhưng Ba Dương xử sự đúng người quân tử: “Tội của ông lẽ ra tôi phải chặt 10 cái đầu mới hả dạ. Nhưng bây giờ đổi đời rồi. Ông mất hết chức hết quyền, trả thù là khi ông còn ngon lành kia, còn bây giờ tôi trả thù ông để làm gì?. Tôi tha chết cho ông đó…”. Thái độ quân tử của Ba Dương làm cho chủ quận thức tỉnh, không hợp tác với Pháp khi Pháp quay lại tái chiếm Nam bộ, ngược lại còn động viên nhiều con cháu tham gia cách mạng.
Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chánh Pháp. Tại Nhà Bè, được sự hướng dẫn của các đảng viên cộng sản, Ba Dương vận động, tập hợp và thống nhất nhiều băng nhóm giang hồ như Mười Lực, Chín Hiệp, Sáu Thơ, bắt đầu hoạt động bằng cách lập tiệm cơm, quán nhậu thu hút lính Pháp, lính Nhật để gạ mua hoặc dùng mưu và sức mạnh tước vũ khí trang bị cho mình, đột nhập vào nhà tay sai, ác bá trừng trị và tước súng.
Từ tháng 5-1945 đến tháng 8-1945, được sự chỉ dẫn của đảng viên, Ba Dương đã phối hợp với lực lượng “Thanh niên tiền phong” và các nhóm giang hồ khống chế, thủ tiêu hàng trăm mật thám, chỉ điểm, cảnh sát của địch ở địa phương. Đầu tháng 8-1945, nhóm vũ trang Ba Dương đã quy tụ được 70 anh em, trang bị 50 súng, có cả trọng liên 13,2 ly và đại bác nòng đôi 20 ly, trở thành nhóm vũ trang mạnh nhất ở vùng Sài Gòn lúc bấy giờ.
Nhận được chủ trương của Xứ Ủy về Tổng khởi nghĩa qua Chi bộ Đảng ở Nhà Bè, Ba Dương bí mật tập họp toàn bộ thủ lĩnh các băng nhóm giang hồ ở Nhà Bè, phổ biến kế hoạch và phân công phối hợp hoạt động. Các nhóm trên đã hoàn thành việc chiếm lĩnh các mục tiêu được phân công như Tòa án, Khám lớn Sài Gòn, Bót số 6, …giải thoát được các tù nhân bị Pháp, Nhật giam giữ.
Sau Cách mạng tháng Tám thành công, Ba Dương lập “Thanh niên cảm tử đoàn” toàn dân “anh chị" tại Tân Quy (Nhà Bè). Nhóm Ba Dương bỏ hãng đóng tàu Ni-chi-năn để về Tân Quy tiếp tục chiêu mộ binh mã. Với tư cách là đàn anh trong vùng, Ba Dương tiếp xúc với các nhóm vũ trang lân cận và nhanh chóng thống nhất lực lượng lại thành một khối. Anh em “giang hồ tứ chiếng” liên kết lại lập bộ đội Xóm Cỏ, thống nhất tôn Ba Dương làm thủ lĩnh. Ba Dương thấy tên Xóm Cỏ, Hố Bần nghe không được “oai” cho lắm, nên mới chọn tên ấp Bình Xuyên thuộc làng Chánh Hưng để đặt. Tên này nghe “oai” hơn, vì “Bình là dẹp bằng, Xuyên là ngang dọc”, phù hợp với tôn chỉ của hảo hán. Danh xưng “bộ đội Bình Xuyên” có từ ngày ấy. Xóm cầu Rạch Đỉa trở thành Tổng hành dinh bộ đội Bình Xuyên của Ba Dương. Bộ đội Ba Dương chủ động liên kết với bộ đội Thủ Thiêm của Mười Lực, liên quân với bộ đội Hai Vĩnh đánh nhiều trận gây thanh thế.
Qua một thời xưng hùng, xưng bá, gặp dòng xoáy cách mạng cuốn hút, lực lượng Bình Xuyên đã chuyển hóa, phát triển thành những đơn vị Vệ quốc đoàn. Nhiều thủ lĩnh Bình Xuyên như Dương Văn Dương (Ba Dương), Huỳnh Văn Trí (Mười Trí), Mai Văn Vĩnh (Hai Vĩnh), Dương Văn Hà (Năm Hà, em ruột của Ba Dương)…là những người có uy tín, chân thành học hỏi các chiến sĩ cách mạng và quyết tâm phục vụ đất nước.
Dương Văn Dương kêu gọi binh sĩ Bình Xuyên “hãy tỏ rõ mình là chiến sĩ cách mạng”, tước khí giới những nhóm giang hồ nào chưa chịu từ bỏ giang hồ, đặt hình phạt đối với những người rượu chè, bê tha, ức hiếp quần chúng…
Ngày 23-9-1945, Pháp gây hấn, nổ súng đánh chiếm Sài Gòn. Toàn Nam bộ vùng lên kháng chiến. Phối hợp với hoạt động của các lực lượng vũ trang trong nội thành, xung quanh Sài Gòn hình thành 4 mặt trận bao vây quân địch. Cuối tháng 9-1945, mặt trận phía nam Sài Gòn-Chợ Lớn còn được gọi là mặt trận số 4 được thành lập do đảng viên kỳ cựu Nguyễn Văn Trân được cử làm Ủy trưởng quân sự. Ba Dương trực tiếp chỉ huy bộ đội Nhà Bè, Tân Thuận, Bình Đông kiêm trưởng ban do thám của mặt trận. Đến tháng 11-1945, Ba Dương được cử làm chỉ huy trưởng mặt trận số 4. Pháp tung hết lực lượng quyết chiếm Sài Gòn và vùng phụ cận. Sau khi mặt trận số 4 bị vỡ, lực lượng Bình Xuyên không chạy dài như Đệ nhị, Đệ tam, Đệ tứ sư đoàn. Ba Dương lệnh các đơn vị rút về Phước An, Long Thành để chấn chỉnh lực lượng. Tại Ba Doi, Ba Dương thống nhất và củng cố các đơn vị bộ đội Thủ Thiêm, Tân Thuận, Nhà Bè, Phú Nhuận… và chọn Rừng Sác làm căn cứ kháng chiến.
Tình hình chiến sự ngày càng gay go, Pháp quyết tâm chiếm lại Nam bộ. Sài Gòn như chảo dầu sôi, quyết bảo vệ nền độc lập mới giành được. Từ chiến khu Đông Triều – Hải Phòng, Tư lệnh Nguyễn Bình vâng lệnh Bác Hồ vào Nam thống nhất các lực lượng vũ trang. Nguyễn Bình hối hả vượt đường thiên lý vào chiến trường Nam bộ. Trên đường đi, ông cố thu thập tin tức và rất mừng khi biết Bình Xuyên là một lực lượng đáng kể trong số các lực lượng ở miền Đông. Ông nghe tiếng Ba Dương từ trước và tính ngay tới việc liên kết với Ba Dương để có thế lực ngay từ đầu. Trong khi đó, quân đội Anh-Ấn của tướng Gracey không thực hiện đúng chỉ thị của đồng minh giải giới quân Nhật, mà sử dụng quân Nhật kiềm hãm các hoạt động của dân quân, giúp bọn Pháp ngóc đầu dậy. Quân Nhật chiếm giữ các vị trí quan trọng ở ngoại thành như cầu Nhị Thiên Đường, cầu Chữ Y, cầu Rạch Ong. Bộ đội của Ba Dương đóng ở hãng Ni-chi-năn phải cấp tốc dời về cầu Rạch Đỉa. Tại đây, Ba Dương vạch kế hoạch đánh chớp nhoáng vào nhiều vị trí quan trọng trong nội thành. Những trận đánh này cùng các trận quấy rối của các cánh quân khác đã làm cho các tướng lĩnh tự cao tự đại của Pháp thấy rõ dân Sài Gòn không bó tay để chúng ngang nhiên cướp nước lần thứ hai.
Tháng 10-1945, thực hiện chủ trương của đảng bộ, Ba Dương thuyết phục các băng nhóm thống nhất lại thành lực lượng vũ trang Nhà Bè do đích thân ông làm chỉ huy trưởng, Đinh Văn Nhị làm ủy viên chính trị, Từ Văn Ri tham mưu trưởng, quân số lên đến 2.000 người, trang bị 1.300 súng, có 2 đại bác, 7 trọng liên 13,2 ly, 15 trung liên. Khác với quân của Bảy Viễn (Lê Văn Viễn) chỉ lo bảo toàn lực lượng, chạy dài khi đối phương tấn công, bộ đội Nhà Bè chủ động đánh nhiều trận, trong đó có trận Cây Khô do Ba Dương trực tiếp chỉ huy, có sự phối hợp của bộ đội Tám Mạnh, phục kích tiêu diệt gọn đoàn tàu, diệt và bắt sống toàn bộ quân địch, thu một tàu kéo, một xà lan và 4 ghe đầy lương thực, thực phẩm. Sau trận đánh, Khu bộ trưởng Nguyễn Bình gởi thư khen: “…Toàn quốc nghe tin bộ đội Bình Xuyên đánh giặc dũng cảm. Các anh em xứng đáng với tên Giải phóng quân Nam bộ. Nhân danh Khu bộ trưởng, tôi gởi lời khen và số tiền 3.000 đồng để ủy lạo anh em.” Đồng thời Nguyễn Bình cử Nguyễn Văn Hội, Lương Văn Trọng làm phái viên của Khu 7 tại Ban chỉ huy bộ đội Dương Văn Dương. Bộ đội Ba Dương hoạt động đúng hướng, tích cực, hiệu quả nhất và nổi danh nhờ những trận đánh táo bạo vào nội thành và trên kinh Cây Khô.
Giữa tháng 12-1945, Khu bộ trưởng Khu 7 Nguyễn Bình thăm sở chỉ huy Bình Xuyên tại Phước An, quyết định bổ nhiệm Dương Văn Dương làm Khu bộ phó Khu 7 và giao nhiệm vụ Ba Dương chỉ huy một bộ phận quan trọng lực lượng Bình Xuyên xuống chi viện cho chiến trường Khu 8 ở đồng bằng sông Cửu Long, đánh giặc trên đường đi và thống nhất lực lượng vũ trang nơi đơn vị đến.
Theo yêu cầu chi viện của Khu bộ phó Khu 8 Trương Văn Giàu, đầu năm 1946, Ba Dương triệu tập hội nghị tại Rạch Su trình bày việc đưa quân xuống tăng cường chiến khu Bến Tre, tiếp cứu mặt trận An Hóa – Giao Hòa bị Tây uy hiếp nặng. Thực hiện mệnh lệnh của Khu bộ trưởng Nguyễn Bình, Ba Dương chỉ thị chọn các đơn vị có thành tích lập liên quân gồm 5 đại đội đi Bến Tre, đích thân Ba Dương chỉ huy. Đơn vị liên quân tổ chức ăn tết trước đồng bào 3 ngày. Đêm 30 tết liên quân vượt sông Soài Rạp, xuyên qua Bình Phục Nhất, Chợ Gạo, vượt Cửa Tiểu qua An Hóa. Vừa đi vừa đánh tạo khí thế. Cánh Nhà Bè đánh Cần Giuộc, cánh Tân Thuận đánh Cần Đước, cánh Tân Quy đánh Chợ Trạm. Sau đó hợp quân tại Chợ Gạo trước khi hành quân vào Bến Tre. Nhưng khi đến bờ nam Cửa Tiểu thì được tin mặt trận An Hóa – Giao Hòa đã mất. Bộ chỉ huy quyết định tổ chức đánh đoàn tàu thực phẩm của địch, sau đó kéo quân về xã Châu Bình (Giồng Trôm) cùng hội quân với lực lượng Cộng hòa Vệ binh, Quốc gia Tự vệ cuộc của Trương Văn Giàu và Nguyễn Văn Quạn, bàn kế hoạch mở mặt trận đánh Tây và phối hợp giải tán Đệ Tam Sư đoàn đã có hành động quân phiệt làm nhân dân ta thán.
Đang hội nghị thì được tin Tây sắp tấn công. Đơn vị của Ba Dương ở ấp Bình Khương (Châu Bình) chưa kịp triển khai phòng tuyến thì bị bao vây tứ phía. Nhận thấy tình hình nguy ngập, một cán bộ tham mưu đưa ra một xấp giấy thuế thân để Ba Dương và một số anh em giả dạng thường dân “chém vè” bảo toàn lực lượng. Nhưng tính cách “anh hai” ở con người Nam bộ này vẫn như ngày nào, ông xé giấy thuế thân và trả lời người cận vệ: “Cảm ơn anh đã lo cho tôi, nhưng kẻ làm tướng mà bỏ quân chạy trước là tướng hèn. Tôi quyết không nghe theo lời anh”. Hai chiếc Spitfire bắn phá dọn đường cho bộ binh Pháp. Ba Dương xoay quanh cây rơm sau nhà trú quân, vừa tránh đạn vừa ra lệnh cho đơn vị triển khai chiến đấu. Không may, Ba Dương trúng đạn tử thương lúc 8 giờ 30 phút ngày 16 tháng Giêng năm Bính Tuất (1946), an táng tại Châu Bình và hài cốt được cải táng về nghĩa trang thành phố Hồ Chí Minh sau ngày miền Nam giải phóng.
Khi Ba Dương trở thành người chỉ huy quân đội, ông là vị chỉ huy gương mẫu, dũng cảm, được anh em tin yêu. Nhưng cuộc đời binh nghiệp của ông lại ngắn ngủi, để lại niềm tiếc thương vô hạn đối với cán bộ chiến sĩ Bình Xuyên cách mạng và nhiều người ngưỡng mộ ông.
Trong giới “hảo hán” theo cách mạng, có lẽ Ba Dương là người tiêu biểu cho sự tự rèn luyện, phấn đấu vươn lên và cũng là người đại diện tiêu biểu có đóng góp cho sự thành công của sự nghiệp cách mạng, mà mọi người vẫn gọi là sự nghiệp của quần chúng. Đánh giá chung về con người của Ba Dương, có sách viết “Tuy là dân giang hồ, nhưng Ba Dương có học đến tiểu học, lại có tư cách đạo đức của một thủ lĩnh, có uy tín với đàn em. Chọn Ba Dương làm người phất cao lá cờ giang hồ theo cách mạng là thủ thuật hay nhất để nắm lấy giới giang hồ mã thượng. Ba Dương tử trận, tướng Nguyễn Bình mất một cánh tay đắc lực. Lập tức Nguyễn Bình đánh điện chia buồn cho Dương Văn Hà (em cùng mẹ khác cha với Ba Dương) cùng các Chi đội trong Liên khu Bình Xuyên. Đồng thời Nguyễn Bình cùng Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam bộ đề nghị Trung ương và Bác Hồ truy phong Thiếu tướng cho Khu bộ phó Khu 7 Dương Văn Dương đã anh dũng hy sinh trên chiến trường Bến Tre…”. Ngày 05-8-1948, Dương Văn Dương được truy phong hàm thiếu tướng.
Trong mật điện số 946/TRT năm 1946 gởi Khu 7, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi lời chia buồn với gia quyến Dương Văn Dương. Năm 1947, Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam bộ quyết định lấy tên Dương Văn Dương đặt cho một con kênh đào dài nhất ở Đồng Tháp Mười (45 km) nối từ huyện Tân Thạnh (Long An) sang tỉnh Đồng Tháp. Kinh Dương Văn Dương thay cho tên Lagrange, nguyên là chủ tỉnh Long An thời Pháp thuộc. Ngoài ra, Trung đoàn 300 – Trung đoàn nam tiến đánh giặc giỏi còn được vinh dự mang tên Dương Văn Dương.
Khi còn đương thời, các tướng Trần Văn Trà, Tô Ký, Đồng Văn Cống, Nguyễn Thị Định…đều xem Dương Văn Dương là bậc đàn anh của các tướng lĩnh Nam bộ. Thế nhưng cho đến nay vẫn chưa có tên Dương Văn Dương trong Bách Khoa Quân sự Việt Nam, mặc dù ông là thiếu tướng đầu tiên của Nam bộ và cuốn đại tự điển này được tái bản lần thứ hai. Ở Bến Tre (nơi ông sinh ra và hy sinh) và Nhà Bè, Quận 7 (nơi ông lớn lên, trụ lại và nổi danh Ba Dương) vẫn chưa có con đường nào mang tên ông – Dương Văn Dương. Người viết bài này rất mong mỏi mọi người hôm nay và mai sau có dịp đi trên dòng kinh mang tên ông, đừng vô tình thốt ra câu hỏi “Dương Văn Dương là ai ?”
(Nguồn Bến Tre online - Nguyễn Hữu Vị)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét