1 tháng 2, 2010

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân (1968)

Mậu Thân 1968 là một sự kiện lịch sử lớn, đối với cả nước cũng như đối với thành phố chúng ta.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ kéo dài 21 năm, ở miền Nam có ba sự kiện lớn: Đồng Khởi năm 1960, Tổng công kích và nổi dậy năm 1968 (Tết Mậu Thân) và chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thẳng 30-4-1975. Đồng Khởi và Mậu Thân 1968 thực sự đã tạo những tiền đề cho đại thắng mùa xuân 1975. Và đó cũng thể hiện nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh giải phóng dân tộc của Đảng ta. Đương nhiên trong mỗi cao điểm của cuộc chiến tranh, sự hy sinh là tất yếu, thậm chí hy sinh khá lớn, nhưng kết quả cuối cùng - thắng tên đế quốc sừng sỏ, hung hãn nhất thế giới - là bằng chứng hùng hồn về tầm vóc của Mậu Thân. Lùi lại những ngày đầu Cách mạng tháng 8-1945, từ khi nổ súng mở màn cho Nam Bộ kháng chiến chống thực dân Pháp (23-9-1945), chúng ta đã biết rằng phải có ngày trở lại Sài Gòn, đó là điểm hẹn của cuộc chiến đấu dài 30 năm. Đánh vào Sài Gòn với một quy mô nào đó sẽ tạo bước ngoặt quyết định: chiếm lại Sài Gòn là kết thúc chiến tranh.
Cho nên từ năm 1960 - 1963, khi mâu thuẫn địch bùng nổ gay gắt, ý định cướp thời cơ để chuyển thế chiến lược là niềm thôi thúc quân dân cả nước. Năm 1965, trong khi chúng ta đã đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt với đỉnh cao là trận Bình Giã (Đông Bắc Sài Gòn) đã hình thành kế hoạch đánh một đòn có ý nghĩa quyết định với sự phối hợp cả ba mũi: chính trị - quân sự binh vận trên toàn miền, ở các thị xã, thị trấn, thành phố lớn mà Sài Gòn là trọng điểm số 1.
Tuy nhiên, vào năm 1965, về phía địch: tuy thất bại trong chiến lược chiến tranh đặc biệt nhưng Mỹ chưa sử dụng con chủ bài: quân lực Mỹ. Ý chí giành chiến thắng bằng quân sự ở Việt Nam trong giới "diều hâu" Mỹ vẫn chiếm ưu thế, tiêu biểu là Tổng thống Mỹ Johnson, Chủ tịch Hội đồng tham mưu liên quân G.Wheeler, tướng Westmoreland, Tư lệnh quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Đế quốc Mỹ đã quyết định chuyển sang chiến lược chiến tranh cục bộ năm 1965. Kế hoạch của ta được hoãn lại.
Cuộc chiến tranh cục bộ diễn ra từ 1965 - 1967. Nhưng đến đầu năm 1967, Mỹ ở vào tình thế khác hẳn năm 1965: trong hai năm Mỹ đã sử dụng gần như cao nhất lực lượng quân sự có thể sử dụng được, chỉ trừ bom nguyên tử (quân Mỹ 480.000, quân ngụy và chư hầu 700.000) kết hợp cả không quân chiến lược và hạm đội 7 bắn phá miền Bắc. Kế hoạch ba giai đoạn của Westmoreland (1965: ngăn chặn Việt cộng, 1966: tiêu diệt lực lượng chủ lực Việt cộng, 1967: bình định và rút quân Mỹ vào đầu năm 1968) đã phá sản hoàn toàn sau thất bại của cuộc tiến công của quân Mỹ mùa khô năm 1965 - 1966, năm 1966 - 1967, nhất là sau thất bại nặng nề ở cả hai hướng chính: chiến dịch Junction City đầu năm 1967 đánh vào căn cứ Trung ương Cục và cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân bị quân dân miền Bắc đánh trả quyết liệt. Trong khi đi "tìm diệt Việt cộng" ở rừng núi, đồng bằng, Mỹ đã thiệt hại hơn 69.000 quân, trong lúc đó thế và lực của quân và dân miền Nam về chính trị, quân sự lại mạnh hơn năm 1965 nhiều lần, ngay ở giữa lòng đô thị Sài Gòn. Đương nhiên tương quan về quân sự giữa ta và địch vẫn ở tỷ lệ 1/5 nếu chỉ tính riêng quân số) và địch vẫn có ưu thế tuyệt đối về không quân, hải quân, hỏa lực và cơ động. Cuộc chiến tranh cục bộ diễn ra "không có ánh sáng ở cuối con đường hầm" đối với Mỹ khiến tình hình chính trị trong giới cầm quyền Mỹ phân hóa mạnh. Theo tài liệu mật của lầu Năm Góc (bị báo chí Mỹ phát hiện và công bố) năm 1965, Đại sứ Mỹ Cabot Lodge gửi về Washington một báo cáo bi quan gọi là báo cáo "7 không" (7 con số 0), giới lãnh đạo Washington lúc đó chia làm ba phe. Phe "bồ câu" (tạm gọi theo báo chí tư sản) chủ trương giảm quy mô chiến cuộc và rút quân Mỹ về, phe "diều hâu", đứng đầu là chủ tịch Hội đồng tham mưu liên quân G.Weeler và Tư lệnh Mỹ ở Thái Bình Dương Westmoreland, chủ trương tiếp tục tăng quân giành chiến thắng quân sự, Tổng thống Mỹ Johnson bị sức ép của cả hai phe, còn do dự...
Trước cục diện đó, Bộ Chính trị, Trung ương Đảng đã nhận định: "Tình hình cho phép ta có thể chuyển cuộc cách mạng của ta sang một thời kỳ mới, thời kỳ thắng lợi quyết định"...(NQ.14/BCH/TW).
Từ đầu năm 1967, kế hoạch tổng tấn công và nổi dậy được phác thảo và tất cả các chiến trường đều ráo riết chuẩn bị.
Riêng ở thành phố Sài Gòn, tuy có những khó khăn tổn thất lớn về lực lượng nội thành (một số đồng chí lãnh đạo bị địch bắt, phong trào quần chúng bị đàn áp, thiệt hại nặng nhất là công đoàn và phụ vận) nhưng đã khẩn trương tăng thế và lực để thực hiện quyết tâm của Trung ương Đảng: "giáng một đòn quyết liệt vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ". Thành phố chúng ta đã làm tất cả, tạo mọi điều kiện vật chất, tinh thần và lực lượng nhằm phối hợp cuộc nổi dậy bên trong với mặt tấn công từ ngoài vào. "Hàng trăm cán bộ được tăng cường vào nằm trong nội thành, hàng ngàn nhà của quần chúng cơ sở đã trở thành những căn cứ, hầm chứa vũ khí, truyền đơn, khẩu hiệu. Các đội vũ trang hình thành, từ quần chúng cách mạng được trang bị và huấn luyện bằng nhiều cách. Thế và lực của chiến trường, cả ngoại thành vùng ven và nội thành đã tạo điều kiện cho ta "ém" hàng trung đoàn quân tiếp cận thành phố, đưa lực lượng biệt động chốt gần các trọng điểm. Bộ chỉ huy tiền phương gồm các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Thành ủy đặt cơ quan giữa thành phố..." (1)
Công việc chuẩn bị với thời gian ngắn ngủi (3 tháng), trong tình hình thế địch còn rất mạnh đòi hỏi lòng dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, cân cù, tỉ mỉ và đức hy sinh phi thường của tất cả cán bộ chiến sĩ, của người dân thành phố vốn gắn bó máu xương với cách mạng.
Trung ương và Trung ương Cục miền Nam chỉ đạo chung toàn chiến trường, riêng khu Sài Gòn - Gia Định và phụ cận đã thành lập Đảng ủy khu trung tâm do đồng chí Nguyễn Văn Linh làm Bí thư, đồng chí Võ Văn Kiệt và Trần Văn Trà làm Phó bí thư. Khu trung tâm gồm 5 phân khu (Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp, Dĩ An, Lái Thiêu, Thủ Đức, Bình Tân, Nhà Bè bao gồm cả một phần tiếp cận Sài Gòn của các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, Biên Hòa (nay là Đồng Nai, Long An)...Khu nội thành (thường gọi là phân khu 6) do đồng chí Trần Bạch Đằng trực tiếp chỉ đạo. Khi bước vào chiến dịch, đa thành lập hai Bộ chỉ huy tiền phương: Bộ chỉ huy tiền phương Bắc và Bộ chỉ huy tiền phương Nam.
Chín mục tiêu trọng điểm được giao cho lực lượng biệt động chiếm lĩnh ngay trong giờ đầu nổ súng là: sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu ngụy (nay là Quân khu 7), Bộ Tư lệnh hải quân, Dinh Độc Lập (nay là Hội trường Thống Nhất), Đài Phát thanh (nay là trụ sở Hàng không Việt Nam), Biệt khu thủ đô ngụy (nay là Bộ Tư lệnh thành), Tổng nha cảnh sát, khám Chí Hòa, Sứ quán Mỹ. Lực Iượng chủ lực và lực lượng võ trang các phân khu kết hợp đánh một số mục tiêu khác, phá một số cầu...để ngăn chặn địch cơ động. Mũi nổi dậy bên trong đánh ngụy quyền ở cơ sở, diệt ác, vũ trang quần chúng...Lực Iượng chủ lực sẽ tiến vào chiếm lĩnh một số trọng điểm trong nội thành sau khi lực Iượng biệt động đã đốt phá và chốt giữ...
Kế hoạch còn dự kiến có ba khả năng nhưng chung nhất là tạo bước ngoặt quyết định buộc địch phải từ bỏ tham vọng giành chiến thắng bằng quân sự, chịu thương lượng với ta đi đến kết thúc chiến tranh
Cuộc tổng tấn công và nổi dậy chủ yếu diễn ra ở đợt 1 và đợt 2 từ tháng 1/1968 đến tháng 5/1968.
Thần tốc, bí mật, bất ngờ...các mệnh lệnh đó được thực hiện triệt để, ngày giờ hành động chỉ được phổ biến cho Tư lệnh chiến trường trước không hơn 3 ngày. Thế nhưng đến ngày N, giờ G hầu như tất cả đều đã ở vào vị trí mà địch không hề hay biết. Có người nói đó là một sự thần kỳ tưởng như huyền thoại. Thực ra đó là kết quả của lòng tin, ý chí quyết thắng tuyệt vời của quân và dân ta.
Vào đợt 1: đúng 3 giờ đêm 30-1-1968 rạng ngày 31-1-1968 (đêm mùng một rạng mùng hai Tết Mậu Thân, biệt động nổ súng vào các mục tiêu đã được chỉ định. Ta chiếm được 5 mục tiêu trong số 9 mục tiêu đã đề ra, chốt giữ và chống lại bọn địch đang điên cuồng phản kích, đặc biệt ác liệt là các trận đánh Tòa Đại sứ Mỹ, Đài Phát thanh, Dinh Độc Lập...(ba mục tiêu không tiến hành được là: Tổng nha cảnh sát, Biệt khu thủ đô, khám Chí Hòa, riêng ở Bộ Tư lệnh hải quân thì chỉ chiếm được vòng rào).
Những tấm gương anh hùng, xả thân của các chiến sĩ biệt động trong các trận này không bút nào tả xiết. Hầu hết anh em đã không trở về.
Các lực lượng chủ lực mũi nhọn của phân khu Gò Môn từ hướng Bắc và Tây Bắc đánh vào Bộ Tổng tham mưu, Bộ chỉ huy thiết giáp (trại Phù Đổng), Bộ chỉ huy pháo binh (trại Cổ Loa, Nỏ Thần) ở Gò Vấp và chiếm khu ngã năm Bình Hòa, Cây Thị (tiểu đoàn 19 Quyết Thắng Gia Định). Hướng Tây và Tây Nam (sân bay Tân Sơn Nhất), lực lượng đặc công và cánh phân khu 2 chiếm được một phần sân bay, phát triển được về hướng trường đua Phú Thọ, Trần Quốc Toản (nay là đường 3-2), Bà Hạt, Nguyễn Lâm, Nguyễn Kim, Nguyễn Tri phương, Sư Vạn Hạnh, Nguyễn Duy Dương... nhưng không đến được Biệt khu thủ đô.
Hướng Nam, phân khu Bình Tân - Nhà Bè tiến vào theo ba cánh ở các hướng quận 6, quận 8, Nhà Bè. Đây là hướng vào sâu nhất, đặc biệt là cánh từ Phú Định, quận 6 (Bộ chỉ huy tiền phương Nam đóng ở đây), thọc vào đến Lò Gốm, hãng rượu Bình Tây, đường Tháp Mười, Hậu Giang, Chợ Thiếc, Minh Mạng. Cánh quận 8, quận 4 đánh nhau ác liệt với địch ở cầu Nhị Thiên Đường, Bến Đá, Hàng Thái...
Hướng Đông và Đông Bắc (phân khu Dĩ An - Thủ Đức) mũi nhọn xuống đến Hàng Xanh, khu vực Cầu Sơn (nay thuộc Bình Thạnh)...
Lực lượng chính trị nội thành phát động được quần chúng nổi dậy Ở nhiều nơi như quận 7, 8, ngã ba Hàng Xanh, ngã năm Bình Hòa, Gò Vấp, khu chợ Trần Quốc Toản, trường đua Phú thọ, Cầu Tre, Phú Lâm...
Đợt 1 tiến hành từ 31-1 đến 25-2 thì cơ bản kết thúc, tuy một số nơi còn đánh địch phân kích đến tháng 3-1968. Đợt 1 ta thắng lớn đánh trúng vào trung tâm thần kinh của địch, ảnh hưởng lớn về chính trị, gây tổn thất nặng nề cho địch về quân sự hơn bất kỳ thời nào trước đây, tuy chưa diệt gọn được nhiều đơn vị địch, mũi quân sự chưa đủ sức làm đòn xeo cho mũi nổi dậy...Đặc biệt nó đã tác động mạnh vào giới cầm quyền Mỹ và gây kinh ngạc lớn trong dư luận thế giới.
Đợt 2 mở đầu từ đêm 4 rạng 5 tháng 5-1968 (2). Trong đợt 2 lực lượng chủ lực đã phát triển sâu hơn đợt 1, pháo ta cũng bắn phối hợp vào nhiều mục tiêu trong thành phố, mặc dù địch có bố phòng nhưng vẫn bị bất ngờ về cách đánh của ta, về cường độ của các cuộc tấn công, về chiều rộng và sâu của một số khu vực ta chiếm lĩnh. Khu vực ta chiếm lĩnh ngày càng nhiều hơn, như Gò Vấp, Gia Định, Cây Thị, Cây Quéo, cầu Băng Ky, Bình Lợi, cầu Sơn, Bình Hòa, lăng ông Bà Chiểu, ngã năm Chuồng Chó. Ở phía nam các khu Khánh Hội, cầu Tân Thuận, quận 7, quận 8, cầu Chữ Y, Phạm Thế Hiển, Âu Dương Lân. Phía Tây có các khu vực cầu Tre, Bình Thới, Phú Thọ Hòa, Trường Đua, Bà Hạt, ngã tư Bảy Hiền, Vườn Lài. Mũi quận 6 vào đến Minh Phụng, Hậu Giang, Trần Quốc Toản, Sư Vạn Hạnh, mũi Phú Lâm đến Nguyễn Trãi, Phùng Hưng, Đồng Khánh, Khổng Tử, Tổng Đốc Phương, Nguyễn Văn Thoại, chợ An Đông, Bình Tiên, Bình Tây...
Trong nội thành lực lượng thanh niên cánh Hoa vận nổi dậy chiếm tòa hành chánh quận 5, lực lượng các cánh khác cũng làm chủ ở một số khu vực, nhất là quận 6, 7, 8...
Chuẩn bị chiến dịch, mở mũi tiến công, đánh trả địch phản kích...đã đòi hỏi xiết bao dũng cảm, mưu trí. Nhưng khi phải rút ra khỏi vòng vây dày đặc của địch trong một đô thị chằng chịt đường phố vốn chưa hề biết đến, cán bộ chiến sĩ ta càng vô cùng gian khổ. Thế mà nhiều đơn vị ta đã đột nhiên "biến đi" như chui được vào lòng đất, cũng bí mật, bất ngờ như lúc xuất hiện trên đường phố...Nhân dân thành phố, từ em bé đến những cụ già, gái cũng như trai đã giúp đỡ bộ đội ta Iàm được điều tưởng như kỳ lạ đó.
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy diễn ra gần cuối năm 68, nhưng chủ yếu trong năm tháng đầu. Tổng thống Mỹ phải cách chức Westmorland. Tư lệnh quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương, phải ra lệnh hạn chế, sau đó chấm dứt bắn phá miền Bắc, bản thân Johnson phải quyết định không ra tranh cử tổng thống thêm một nhiệm kỳ. Tháng 3-1968, Mỹ ngó ý chấp thuận thương lượng với ta. Và ngày 10-12-1968 phái đoàn của chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cùng với phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức đến dự Hội nghị Paris lịch sử.
Chúng ta hãy xem kẻ địch đã nói về Mậu Thân như thế nào? Tài liệu mật của Lầu Năm Góc (Bộ Quốc phòng Mỹ) đã đánh giá: "...Cuộc tiến công (Tết Mậu Thân) đã Iàm cho Nhà Trắng và Hội đồng tham mưu trưởng liên quân bị bất ngờ về sức mạnh, thời gian kéo dài và mức độ ác Liệt của cuộc tiến công đã kéo dài sự kinh ngạc này...", "...Đối với Tổng thống, sự kinh ngạc và tâm trạng thất vọng đặc biệt nghiêm trọng..". Gabriel Kolke, nhà sử học người Mỹ đã viết: "Tấn công Tết (Mậu Thân) là sự kiện quan trọng nhất và phức tạp nhất của cuộc chiến tranh Việt Nam".
Cho đến nay, dù nhiều năm đã qua, cuộc tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 vẫn như mới xảy ra năm nào rất gần. "Tết Mậu Thân" mãi mãi là trang sử oanh liệt của quân và dân cả nước. Sự kiện Mậu Thân ở Sài Gòn càng chỉ rõ công lao và xương máu của cả nước hội tụ về đây. Trong chiến dịch đó, hàng vạn người con ưu tú của thành phố, của cả nước đã hy sinh. Những tấm gương dũng cảm kiên cường, anh hùng bất khuất thật vô bờ bến, từ những cán bộ chiến sĩ giải phóng cho đến người dân bình thường của một thành phố thật kỳ diệu.
"Nếu toàn bộ cuộc tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân Mậu Thân 1968 đã làm nhụt hẳn ý chí chiến thắng của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải chuyển hướng chiến lược, thì sự kiện ở Sài Gòn Ià sự kiện bất ngờ nhất đối với Nhà Trắng, làm nản những cái đầu kiêu ngạo nhất ở Hoa Thịnh Đốn" (3)
Mậu Thân 1968 Ià tiền đề của Đại thắng mùa xuân 1975 như thế đó!
(Trích Mậu Thân - NXB Trẻ, 1988)
_____________
(1) Nguyễn Văn Linh: Thành phố Hồ Chí Minh 10 năm, NXB Sự thật Hà Nội - 1985, trang 50
(2) Trong đợt 2, đông chí Nguyễn Văn Linh, Bí thư Đảng ủy khu trung tâm đã đặt chỉ huy sở ở vùng Đức Huệ gần thành phố. Khu vực này bị B.52 dội bom, nhưng các đồng chí lãnh đạo đã rời khỏi đây, thoát trong gang tấc.
(3) Thành phố Hồ Chí Minh 10 năm, NXB Sự thật Hà Nội - 1985, trang 50

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét