21 tháng 12, 2009

Nguyễn Tri Phương: Trung với nước (1800-1873)

Nguyễn Tri Phương sinh năm Canh Thân (1800), mất năm Quý Dậu (1873) là một vị đại thần nổi tiếng là dũng cảm và mưu hoạch. Quê ông ở làng Đường Long, tổng Chánh Lộc, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên.
Ông có tên cũ là Nguyễn Văn Chương tự là Hàm Trinh đến năm 1850, vua Tự Đức chuẩn phê cải tên ông là Nguyễn Tri Phương, nhà vua đặt tên như vậy là do lấy câu chữ “Dõng thả Tri Phương” nghĩa là dũng mãnh mà lắm mưu chước.
Nguyễn Tri Phương xuất thân từ gia đình làm ruộng và thợ mộc, ông là con cả trong một gia đình có ba con trai. Vì nhà nghèo nên Nguyễn Tri Phương không ra đời từ khoa bảng, với ý chí vươn lên, ông đã làm nên sự nghiệp lớn. Hồi trẻ, ông làm thơ lại ở huyện Phong Điền, thế rồi dần dần tiến đến làm thơ lại ở bộ Hộ sau được người tiến cử và vua Minh Mạng đã thu dụng ông.
Năm Quý Mùi 1823, vua Minh Mạng đề bạt ông hàm Điển bộ (Bí thư ở nội điện), năm sau thăng Tu soạn rồi Thừa chỉ ở nội các, 2 năm sau thăng Thị đọc, Thị giảng Học sĩ, năm 1831, thăng Hồng Lô tự khanh. Năm 1831 làm phái bộ sang Trung Quốc về việc thương mại, năm 1935 được phái vào Gia Định xây dựng các vùng mới khai hoang. Việc thành công, ông được thăng hàm Thị lang. Năm 1837, nhiều đại thần gièm pha, ông bị giáng xuống làm thơ lại ở bộ Lại, cuối năm được khai phục hàm chủ sự sung chức Lang trung. Năm sau thăng Thị lang bộ Lễ. Năm 1839, thăng hàm Tham tri làm việc ở nội các.
Năm Canh Tý 1840, được bổ làm Tuần phủ Nam Nghĩa trông coi bố phòng cửa biển Đà Nẵng. Công việc tốt đẹp, ông được triệu về thăng Tham tri bộ Công, được vua Thiệu Trị cử làm Tổng đốc An Hà (An Giang, Hà Tiên). Tại đây, ông dẹp tan được giặc cướp nước ngoài vào quấy phá. Sau đó được bổ làm Tổng đốc Long Tường kiêm khâm sai quân thứ đại thần và được thưởng danh hiệu “An Tây trí dũng tướng”...
Năm 1848, vua Tự Đức phong ông tước Tráng Bá Liệt, sau đó hơn 2 năm, Nguyễn Tri Phương được sung chức Khâm sai Tổng đốc quân vụ đại thần kiêm lãnh Tổng đốc các tỉnh Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Hà Tiên. Năm Mậu Ngọ (1858), tàu chiến Pháp đến uy hiếp Đà Nẵng, ông được cử làm Quân thứ tổng thống đại thần trực tiếp chỉ huy quân đội chống giặc. Với vũ khí tối tân Pháp đã phá hủy một số lớn đồn lũy của ta, ông bị triều đình giáng cấp nhưng vẫn lưu tại chức. Năm 1860, ông được sung chức Gia Định quân thứ, Thống đốc quân vụ cùng Tham tán đại thần Phạm Thế Hiển trong coi việc quân sự ở miền Nam. Tại đây, ông xây dựng đồn Chí Hòa để chống Pháp. Ngày 25-10-1861, Pháp công phá đồn, ông bị thương, em trai ông là Nguyễn Duy tử trận. Rồi Pháp chiếm Gia Định, ông bị triều đình cách chức, năm sau được cử làm Đổng nhung quân vụ Biên Hòa. Năm 1862, triều đình ký hàng ước, Nguyễn Tri Phương được cử ra Bắc làm Tổng thống Hải An quân vụ. Ngày 19-11-1873, quân Pháp do Garnier chỉ huy, đánh úp Hà Nội. Con trai ông là phò mã Nguyễn Lâm hy sinh tại trận, ông bị trọng thương. Giặc Pháp chiếm thành Hà Nội, chúng bắt được ông trong lúc bị thương nặng, lính Pháp biết về ông nên cố cứu chữa, nhưng ông đã từ chối và nói rằng: “Bây giờ nếu ta chỉ gắng lây lất mà sống, sao bằng thung dung chết về việc nghĩa”.
Yêu nước, thương dân, bất khuất trước kẻ thù, Nguyễn Tri Phương đã chọn cái chết để thỏa lòng trung với nước. Quả là một tấm gương, một bài học quý cho đời.
(Nguồn Báo Bình Dương - Thái gia Thư)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét