3 tháng 9, 2008

Sơ lược lịch sử Việt Nam - Phần 2

XII. NHÀ ĐINH (968 - 980), QUỐC HIỆU ĐẠI CỒ VIỆT, KINH ĐÔ HOA LƯ:
- Đinh Bộ Lĩnh, người động Hoa Lư (Ninh Bình) theo dưới cờ của sứ quân Trần Lãm, chiêu mộ hào kiệt dẹp loạn 12 sứ quân. Năm 968 ông lên ngôi vua xưng là Đinh Tiên Hoàng Đế đóng đô ở Hoa Lư. Năm 979, Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn bị tên thái giám giết chết, Đinh Toàn là con mới lên 6 tuổi. Thấy cơ hội như vậy nhà Tống bèn đưa quân sang xâm lược.

XIII. NHÀ TIỀN LÊ (980 - 1009), KINH ĐÔ HOA LƯ:

- Lê Hoàn sinh năm 941 ở Xuân Lập, Thanh Hóa. Ông theo Đinh Liễn đánh giặc lập nên nhà Đinh. Khi Đinh Tiên Hoàng chết và nhà Tống sang xâm lược nước ta, vì lợi ích dân tộc Thái hậu Dương Vân Nga trao ngôi vua cho Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn. Ông lên ngôi lấy niên hiệu là Lê Đại Hành đóng đô ở Hoa Lư. Ông có công phá quân Tống trên sông Bạch Đằng năm 981 (Chiến thắng Bạch Đằng lần thứ 2).
- Sau đó nhà Tiền Lê trải qua các đời vua là: Lê Trung Tông (1005) và Lê Ngọa Triều (1005-1009).

IX. NHÀ LÝ (1010 - 1225) QUỐC HIỆU ĐẠI CỒ VIỆT, KINH ĐÔ HOA LƯ. NĂM 1010 DỜI ĐÔ VỀ THĂNG LONG, TỪ NĂM 1054 ĐỔI QUỐC HIỆU LÀ ĐẠI VIỆT:

- Lý Công Uẩn người làng Cổ Pháp (Hà Bắc), mồ côi mẹ từ nhỏ được nhà sư Lý Khánh Văn nhận làm con nuôi. Thời Lê ông làm đến chức Điện tiền chỉ huy sứ. Khi Lê Ngọa Triều mất, triều thần suy tôn Lý Công Uẩn lên ngôi vua (Lý Thái Tổ).
- Tháng 7 năm 1010, vua Lý Thái Tổ cho dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La. Một buổi sáng nhà vua thấy Rồng vàng bay lên bèn đặt tên là kinh đô Thăng Long.
- Nhà Lý trải qua các đời vua là: Lý Thái Tông (1028-1054), Lý Thánh Tông (1054-1072), Lý Nhân Tông (1072-1128), Lý Thần Tông (1128-1138), Lý Anh Tông (1138-1175), Lý Cao Tông (1176-1210), Lý Huệ Tông (1211-1224) và Lý Chiêu Hoàng (1224-1225).
- Thái úy Lý Thường Kiệt sinh năm 1019, lúc nhỏ tên thật là Ngô Tuấn, khi lớn lên do tính siêng năng, cần mẫn ông được mang họ vua. Năm 1075, nhà Tống do Vương An Thạch làm tể tướng âm mưu xâm lược nước ta. Lý Thường Kiệt tâu với Thái hậu Ỷ Lan xin cho đánh giặc. Ông cùng Tông Đản đem quân sang đánh phá các căn cứ tập kết lương thực ở Ung Châu, Khâm Châu và Liêm Châu (Quảng Đông, Trung Quốc) rồi chủ động rút quân về nước lập phòng tuyến tại Nam sông Cầu.- Năm 1077, Quách Quỳ và Triệu Tiết dẫn 10 vạn quân tiến đánh nước ta và bị chặn tại phòng tuyến sông Như Nguyệt (sông Cầu). Chính nơi đây, Lý Thường Kiệt cho ra đời bài thơ:Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”
Tạm dịch “Sông núi nước Nam vua Nam
Rành rành đã định tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bây sẽ bị đánh tơi bời”.
Đó được xem là “Bản Tuyên ngôn độc lập” lần thứ I của nước ta. Quân Tống thua chạy về nước. Lý Thường Kiệt đã có công đánh Tống sau đó ông lại có công bình Chiêm.
- Ngoài ra nhà Lý còn có một số danh nhân như: Nguyên phi Ỷ Lan, Thái sư Lý Đạo Thành, Thái úy Tô Hiến Thành, Lý Phụng Hiểu.

X. NHÀ TRẦN (1225 - 1400), QUỐC HIỆU ĐẠI VIỆT, KINH ĐÔ THĂNG LONG:

- Dưới sự sắp đặt của Trần Thủ Độ, ép Lý Huệ Tông đi tu nhường ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng và đưa cháu ông là Trần Cảnh làm chồng cho Chiêu Hoàng. Năm 1225 Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh làm vua niên hiệu Kiến Trung.
- Các đời vua Trần gồm: Trần Thái Tông-Trần Cảnh (1225-1258), Trần Thánh Tông (1258-1278), Trần Nhân Tông (1279-1293), Trần Anh Tông (1293–1314), Trần Minh Tông (1314-1329), Trần Hiến Tông (1329-1341), Trần Dụ Tông (1341-1369), Trần Nghệ Tông (1370-1372), Trần Duệ Tông (1373-1377), Trần Phế Đế (1377-1388), Trần Thuận Tông (1388-1398), Trần Thiếu Đế (1398-1400).
* Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ I (1258):
- Năm 1257, Hốt Tất Liệt sai tướng Ngột Lương Hợp Thai đánh nước Đại Lý và sai sứ giả dụ hàng ta, vua Trần Thái Tông bắt giam sứ Mông Cổ. Ngày 12/12/1257, Ngột Lương Hợp Thai đem 10 vạn quân sang xâm lược. Thế giặc quá mạnh, ta bỏ kinh thành Thăng Long về Khoái Châu, vua hỏi ý kiến Trần Thủ Độ, ông khảng khái nói: “Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo”.
- Quân dân Đại Việt dùng chiến tranh du kích, vườn không nhà trống để tiêu hao sinh lực kẻ thù. Sau đó quân ta tổ chức phản công ở Đông Bộ Đầu thắng lợi, đuổi quân Nguyên rút chạy về nước.
* Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ II (1285):
- Lúc này quân Mông Cổ đã chiếm toàn bộ Trung Quốc, vua Trần Thánh Tông đã thực hiện một chính sách mềm mỏng nhưng kiên quyết và chuẩn bị lực lượng đối phó.
- Tháng 12-1284, vua Nguyên sai Thái tử Thoát Hoan đem 50 vạn quân sang xâm lược và thêm 10 vạn quân của Toa Đô từ Chiêm Thành đánh lên. Dưới tay Thoát Hoan có các tướng như: Lý Hằng, Lý Quán, Ô Mã Nhi, Đường Ngột Đãi, Phàn Tiếp…
- Trước khi quân Nguyên sang xâm lược nước ta thì Thái Thượng Hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông đã sắc phong cho Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn làm Quốc Công Tiết Chế chỉ huy toàn quân dân Đại Việt chống giặc.
- Các Vua Trần tổ chức hội nghị quân sự ở Bình Than. Hưng Đạo Vương công bố “Hịch tướng sĩ” để khích lệ lòng yêu nước của tướng sĩ. Các Vua Trần cũng tổ chức hội nghị các bô lão tại điện Diên Hồng để hỏi ý nên hòa hay đánh, cả nước đồng lòng “Đánh”. Quân và dân ta khắc vào tay 2 chữ “Sát Thát” (giết giặc Nguyên) biểu lộ tinh thần quyết tâm đánh giặc.
- Dưới sự lãnh đạo tuyệt vời của Trần Hưng Đạo, quân ta tổ chức cầm cự và bỏ thành Thăng Long bảo toàn lực lượng, tiếp tục dùng vườn không nhà trống và chiến tranh du kích làm tiêu hao giặc, đợi cho quân Nguyên hết lương thực rồi tổ chức phản công. Với chiến thắng lẫy lừng ở Tây Kết, Chương Dương, Hàm Tử, Vạn Kiếp… chỉ trong vòng nửa năm quân Nguyên bị đánh tơi bời phải rút chạy, Toa Đô, Lý Hằng, Lý Quán bị chém tại trận, còn Thoát Hoan phải chui vào ống đồng chạy trốn về nước. Ngày 6/6/1285, quân ta tiến về giải phóng kinh đô Thăng Long.
* Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ III (1288):
- Sau 2 lần thất bại nặng nề, Nguyên Thế Tổ tức giận huy động trên 30 vạn quân giao cho Trấn nam vương Thoát Hoan thống lĩnh cùng các tướng A Bát Xích, Áo Lỗ Xích, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp… sang xâm lược nước ta một lần nữa, còn sai Trương Văn Hổ theo đường biển vận tải 70 vạn thạch lương thực cung cấp cho quân sĩ. Mùa đông 1287 quân Nguyên ồ ạt sang đánh nước ta.
- Một lần nữa Trần Hưng Đạo cùng toàn quân, toàn dân áp dụng chiến tranh du kích, vườn không nhà trống. Ngày 8/1/1288, quân ta đánh bắt được 300 thuyền giặc tại cửa biển Đại Bàng. Trần Khánh Dư tấn công vào đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ, cướp được nhiều lương thực và vũ khí của giặc.
- Trên khúc sông Bạch Đằng, ngày 8/3/1288 sau khi bố trí trận địa cọc nhọn, quân ta nhử quân Nguyên vào trận địa cọc, khi thủy triều xuống quân ta đồng loạt tấn công, quân giặc chết như rạ, máu loang đỏ cả khúc sông. Quân ta bắt sống Ô Mã Nhi, Tích Lệ Cơ Ngọc, Phàn Tiếp và hơn 400 chiến thuyền giặc, Thoát Hoan khiếp đảm bỏ chạy về nước.(Chiến thắng Bạch Đằng lần thứ 3)
- Vua Trần Nhân Tông đem các tướng giặc bị bắt tế lễ thắng trận ở Chiêu Lăng. Khi vua cử lễ bái yết, có làm bài thơ: “Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ điện kim âu”
Dịch: (Xã tắc hai phen bon ngựa đá
Non song ngàn thưở vững âu vàng).
- Nhà Trần có các danh nhân như: Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải, Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật, Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư, Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản, Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng, Lê Văn Hưu, Phạm Ngũ Lão…

XI. NHÀ HỒ (1400-1407), QUỐC HIỆU ĐẠI NGU, KINH ĐÔ TÂY ĐÔ (THANH HÓA):

- Năm 1394, Hồ Quý Ly lên làm Phụ chính Thái sư thâu tóm quyền bính, ông cho dời đô từ Thăng Long vào Tây Đô. Năm 1400, Hồ Quý Ly bức Trần Thiếu Đế nhường ngôi lập nên nhà Hồ.
- Hồ Quý Ly cho cải cách ruộng đất, phát hành tiền giấy, tăng cường làm thủy lợi, đào sông, đắp đường, đúc súng thần công…Các cải cách của ông có tính chất toàn diện đi trước thời đại nhưng vì mắc tội bức tử vua Thiếu Đế và giết hại 370 tôn tộc, quan lại nhà Trần và không được lòng dân nên Hồ Quý Ly không tập hợp được lực lượng toàn dân chống giặc Minh, nên năm 1407 bố con ông bị bắt đem về Trung Quốc.
- Nhà Hậu Trần có Giản Định Đế cuối thời Hồ từ năm 1407 đến 1409 khởi binh khôi phục nhà Trần nhưng không nghe lời trung thần nên mang họa diệt vong. Đến thời kỳ Trùng Quang Đế, tháng 4/1414 do ít quân không chống lại quân Minh, nhà vua cùng 2 cận thần là Đặng Dung và Nguyễn Súy nhảy xuống biển tự tử.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét