3 tháng 9, 2008

Đà Nẵng - 1858

Hạm đội Pháp đã hành quân cấp tốc từ sáng tinh mơ ngày 31.8.1858 ở cuối đảo Hải Nam và đã đến vịnh Đà Nẵng ngay chiều tối hôm đó. Sáng ngày 1.9.1858, Rigault De Genouilly gửi tối hậu thư cho quan trấn thủ Đà Nẵng buộc phải nộp các thành và pháo đài cho Pháp trong vòng hai giờ. Quá hạn hai giờ chiều ngày 1.9, Genouilly cho tàu chiến chia làm hai cánh, một đánh vào các đồn luỹ ở Sơn Trà, một tấn công vào pháo đài Điện Hải và An Hải. Cuộc tiến công được chuẩn bị hùng hậu, gồm có 3.000 quân, 16 chiến hạm trang bị vũ khí hiện đại, tổ chức đánh nhanh để chiếm lấy Đà Nẵng, làm bàn đạp tiến ra kinh thành Huế.
Sau nửa giờ pháo kích liên tục, hầu hết các vị trí của ta đều trúng đạn, các kho thuốc súng phát nổ, lực lượng đồn trú các đồn buộc phải vừa đánh trả, vừa rút lui. Trước hoả lực hiện đại của địch, các khẩu súng thần công của ta bắn đi những quả đạn sắt, chẳng gây cho địch thiệt hại gì đáng kể. Chỉ trong hai ngày 1 và 2.9, toàn bộ các đồn luỹ, pháo đài ở Sơn Trà và Đà Nẵng đều rơi vào tay giặc.

Cuộc chiến tranh nhân dân
Cùng với quân đội triều đình, nhân dân các làng xã quanh khu vực chiến sự đều rào làng, đắp luỹ, ụ cản chắn đường tiến của giặc, cung cấp lương thực và tham gia xây dựng phòng tuyến cùng quân đội. Việc đánh du kích triệt đường tiếp lương của giặc, đan sọt, đắp đất, đào hào, dựng luỹ... là công việc của toàn dân Đà Nẵng lúc bấy giờ. Có thể nói, quân đội triều đình và nhân dân đã phối hợp biến Đà Nẵng thành một phòng tuyến phòng thủ rất chặt chẽ, liên hoàn. Mười tháng sau khi chiếm giữ Sơn Trà cùng với những trận đánh thọc sâu vào nội địa nhưng sau đó phải rút, ngày 15.6.1859, Genouilly phải báo cáo cho Chính phủ Pháp với lời lẽ bi đát. “Những người An Nam đã trở thành những chiến sĩ dũng cảm. Họ lùi từng bước trước chúng ta, nhưng bắt được họ không phải là chuyện dễ. Chúng tôi có chiếm lĩnh được trận địa, nhưng họ chỉ lui vài trăm thước để ẩn nấp trong những chiến luỹ được xây dựng kiên cố phi thường...”. Trước khi rút đi, chúng đã đốt tất cả các doanh trại trong khu vực tạm chiếm và để lại nơi đây hơn một ngàn nấm mồ của lính thực dân Pháp mà hiện nay người Đà Nẵng gọi là nghĩa địa Y Pha Nho ở chân núi Sơn Trà, khu vực cảng Tiên Sa, Đà Nẵng.
Một năm rưỡi chiến đấu và chiến thắng ở Đà Nẵng là cuộc chiến lâu dài, tiêu biểu và đáng tự hào của nhân dân ta, và nhân dân Đà Nẵng nói riêng, trong suốt lịch sử chống Pháp. Chiến tranh còn làm cho cả tỉnh Quảng Nam lẫn Đà Nẵng lâm vào một nạn đói kéo dài, khiến triều đình phải đưa ra chính sách “Thóc đưa đến, dân đưa đi”. Một bộ phận dân Quảng Nam, Đà Nẵng vào định cư khai phá đất Nam bộ cũng hình thành từ sau nạn đói này.

Dấu vết còn lại
Suốt một năm rưỡi chiến đấu, nhiều chiến sĩ và nhân dân ta đã hy sinh và phải chôn cất tạm thời ở các nơi, sau được quy tập vào các nghĩa trủng (có nghĩa là cái đài lớn), hiện ở Đà Nẵng có hai nghĩa trủng là Hoà Vang và Phước Ninh. Nếu nghĩa trủng Hoà Vang, sau hai lần di dời do xây dựng sân bay vẫn còn khá nguyên vẹn với hơn năm trăm mộ chí, thì nghĩa trủng Phước Ninh, nằm ngay trung tâm thành phố Đà Nẵng chỉ sau một lần di dời để xây dựng nhà thi đấu Nguyễn Tri Phương, đã gần như hoàn toàn biến mất, chỉ còn lại một tấm bia với những lời văn thật hay và nhiều ý nghĩa ... Người quân tử chỉ nghĩ đến điều nghĩa mà dốc lòng vào việc thiện. Dù việc thiện nhỏ thế nào, cũng không bỏ qua. Kẻ tiểu nhân thì chỉ nghĩ đến điều lợi, hễ thấy lợi thì không việc gì không thực hiện... Nơi ngày xưa là thành xiêu luỹ đổ chất chồng. Người ta đã vùi dập đó đây những nắm xương của người vì nghĩa cả mà hy sinh... Và nay thì nhà thi đấu Nguyễn Tri Phương cũng đã bị đập phá để làm con đường từ sân bay qua cầu Rồng. Nhiều người đã cảm thấy tiếc. Nghĩa địa của ta, của những chiến sĩ hy sinh vì dân, vì nước, thì không còn nữa, chỉ còn một tấm bia khá độc đáo, chép lại xa xôi chuyện cũ, nhưng cũng chưa biết số phận nó sẽ đi về đâu?
(Theo SGTT)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét