2 tháng 10, 2010

Thăng Long - Hà Nội qua những tên gọi

Thăng Long, với chữ “Thăng” ở bộ Nhật, được ghi trong Đại Việt sử ký, không chỉ là “Rồng bay lên”, mà còn có nghĩa “Rồng (bay) trong ánh Mặt trời lên cao”. Đây là một tên gọi hoàn toàn do người Việt sáng tạo.
Thăng Long - Hà Nội là Kinh đô lâu đời nhất trong lịch sử Việt Nam. Mảnh đất địa linh nhân kiệt này từ trước khi trở thành Kinh đô của nước Đại Việt dưới triều Lý (1010) đã là đất đặt cơ sở trấn trị của quan lại thời kỳ nhà Tùy (581-618), Đường (618-907) của phong kiến phương Bắc. Từ khi hình thành cho đến nay, Thăng Long - Hà Nội có nhiều tên gọi. Chúng tôi xin chia các tên gọi ấy thành hai loại: Chính quy và không chính quy, theo thứ tự thời gian như sau:

Tên chính quy
Là những tên được chép trong sử sách do các triều đại phong kiến, Nhà nước Việt Nam chính thức đặt ra:
1. Long Đỗ. - Truyền thuyết kể rằng lúc Cao Biền nhà Đường, vào năm 866 đắp Thành Đại La, thấy thần nhân hiện lên tự xưng là Thần Long Đỗ. Do đó trong sử sách thường gọi Thăng Long là đất Long Đỗ. Thí dụ vào năm Quang Thái thứ 10 (1397) đời Trần Thuận Tông, Hồ Quý Ly có ý định cướp ngôi nhà Trần nên muốn dời Kinh đô về đất An Tôn, Phủ Thanh Hóa. Khu mật chủ sự Nguyễn Nhữ Thuyết dâng thư can, đại ý nói: “Ngày xưa, nhà Chu, nhà Ngụy dời Kinh đô đều gặp điều chẳng lành. Nay đất Long Đỗ có Núi Tản Viên, có Sông Lô Nhị (tức Sông Hồng ngày nay), núi cao sông sâu, đất bằng phẳng rộng rãi”. Điều đó cho thấy Long Đỗ đã từng là tên gọi đất Hà Nội thời cổ.

2. Tống Bình. - Tống Bình là tên trị sở của bọn đô hộ phương Bắc thời Tùy (581 - 618), Đường (618 - 907). Trước đây, trị sở của chúng là ở vùng Long Biên (Bắc Ninh ngày nay). Tới đời Tùy chúng mới chuyển đến Tống Bình.
3. Đại La. - Đại La hay Đại La Thành nguyên là tên vòng thành ngoài cùng bao bọc lấy Kinh đô. Theo kiến trúc xưa, Kinh đô thường có “Tam trùng thành quách”: Trong cùng là Tử Cấm Thành (tức bức thành màu đỏ tía) nơi Vua và hoàng tộc ở, giữa là Kinh thành và ngoài cùng là Đại La Thành. Năm 866, Cao Biền bồi đắp thêm Đại La Thành rộng hơn và vững chãi hơn trước. Từ đó, thành này được gọi là Thành Đại La. Trong Chiếu dời đô của Vua Lý Thái Tổ viết năm 1010 có viết: “... Huống chi Thành Đại La, đô cũ của Cao Vương (tức Cao Biền) ở giữa khu vực trời đất...” (Toàn thư, Tập I, H, 1993, tr. 241).

4. Thăng Long. - Về ý nghĩa tên gọi Thăng Long, chúng ta vẫn thường giải thích rằng: Thăng là bay lên, Thăng Long tức là rồng bay. Thực ra, ở trong Hán tự có nhiều cách viết và giải thích chữ “thăng”. Với cách viết thứ nhất, chữ “thăng” có nghĩa là “đi lên cao, tiến lên”, bên cạnh nghĩa đầu tiên của nó là cái thưng, một dụng cụ đo lường dung tích (từ văn học: “đẩu thăng: đấu thưng”). Cách viết thứ hai: có chữ Nhật đặt lên trên chữ Thăng mang ý nghĩa là Mặt trời lên cao và cũng có nghĩa là “đi lên cao”, như chữ “Thăng” ở cách viết thứ nhất. Thăng Long, Kinh đô mới của Lý Công Uẩn được ghi trong Đại Việt sử ký, với chữ “Thăng” ở bộ Nhật, và do đó bao hàm hai nghĩa: “Rồng bay lên”, và “Rồng (bay) trong ánh Mặt trời lên cao”. Đặt tên Thăng Long với cách viết như trên, vừa ghi lại sự kiện Vua Lý Thái Tổ thấy rồng xuất hiện trên đất được chọn làm Kinh đô mới, đồng thời có sức mạnh kỳ diệu và tốt lành của giống Rồng, rất gần gũi với dân Việt, vẫn tự cho mình là “con Rồng cháu Tiên”.
Có điều đáng chú ý là các từ điển thông dụng Trung Quốc như Từ nguyên, Từ hải (Từ nguyên xuất bản 1947, Từ hải xuất bản 1967, chưa rõ những kỳ xuất bản sau có khác không), không thấy ghi từ Thăng Long ở cả 2 dạng viết chữ Thăng. Riêng Trung văn đại từ điển (tập 5, Đài Bắc 1967, trang 208), ở chữ “Thăng” là “Thưng” dạng viết thứ nhất nói trên, có từ kép “Thăng Long” nhưng là danh từ chung và được giảng là “rồng bay lên”. Như vậy, có thể thấy tên gọi Thăng Long với cách viết ghi trên sử cũ là một địa danh hoàn toàn do người Việt sáng tạo.

5. Đông Đô. - Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết: “Mùa Hạ tháng 4 năm Đinh Sửu (1397) lấy Phó tướng Lê Hán Thương (tức Hồ Hán Thương) coi phủ đô hộ là Đông Đô” (Toàn thư Sđd - tr.192). Trong bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, sứ thần nhà Nguyễn chú thích: “Đông Đô tức Thăng Long, lúc ấy gọi Thanh Hóa là Tây Đô, Thăng Long là Đông Đô” (Cương mục - Tập 2, H. 1998, tr.700).

6. Đông Quan. - Đây là tên gọi Thăng Long do quan quân nhà Minh đặt ra với hàm nghĩa kỳ thị Kinh đô của nước ta, chỉ được ví là “cửa quan phía Đông” của Nhà nước phong kiến Trung Hoa. Sử cũ cho biết năm 1408, quân Minh đánh bại cha con Hồ Quý Ly đóng đô ở Thành Đông Đô, đổi tên thành Đông Quan. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Tháng 12 năm Mậu Tý (1408) Giản Định Đế bảo các quân “Hãy thừa thế chẻ tre, đánh cuốn chiếu thẳng một mạch như sét đánh không kịp bưng tai, tiến đánh Thành Đông Quan thì chắc phá được chúng” (Toàn thư , Sđd - Tập 2, tr. 244).
7. Đông Kinh. - Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết sự ra đời của cái tên này như sau: “Mùa Hạ, tháng 4 năm Đinh Mùi (1427) Vua (tức Lê Lợi) từ điện tranh ở Bồ Đề, vào đóng ở Thành Đông Kinh, đại xá đổi niên hiệu là Thuận Thiên, dựng quốc hiệu là Đại Việt đóng đô ở Đông Kinh. Ngày 15 Vua lên ngôi ở Đông Kinh, tức là Thành Thăng Long. Vì Thanh Hóa có Tây Đô, cho nên gọi Thành Thăng Long là Đông Kinh” (Toàn thư , Sđd. Tập 2, tr. 293).

8. Bắc Thành. - Đời Tây Sơn (Nguyễn Huệ - Quang Trung 1787 - 1802), vì Kinh đô đóng ở Phú Xuân (tức Huế) nên gọi Thăng Long là Bắc Thành (Nguyễn Vinh Phúc - Trần Huy Bá - Đường phố Hà Nội - 11.1979, tr.12).

9. Thăng Long. - (Thịnh vượng lên). Sách Lịch sử Thủ đô Hà Nội cho biết: “Năm 1802, Gia Long quyết định đóng đô ở tại nơi cũ là Phú Xuân (tức Huế), không ra Thăng Long, cử Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn miền Bắc và đổi Kinh thành Thăng Long làm trấn thành miền Bắc. Kinh thành đã chuyển làm trấn thành thì tên Thăng Long cũng cần phải đổi. Nhưng vì tên Thăng Long đã có từ lâu đời, quen dùng trong dân gian cả nước, nên Gia Long thấy không tiện bỏ đi ngay mà vẫn giữ tên Thăng Long, nhưng đổi chữ “Long” là Rồng thành chữ “Long” là thịnh vượng, lấy cớ rằng rồng là tượng trưng cho nhà Vua, nay Vua không ở đây thì không được dùng chữ “Long” là “rồng” (Trần Huy Liệu - Chủ biên. Lịch sử Thủ đô Hà Nội, H. 1960, tr 81).
Việc thay đổi nói trên xảy ra năm 1805, sau đó Vua Gia Long còn hạ lệnh phá bỏ Hoàng thành cũ, vì Vua không đóng đô ở Thăng Long, mà Hoàng thành Thăng Long lại rộng lớn quá.

10. Hà Nội - So với tên gọi Thăng Long với ý nghĩa chủ yếu có tính cách lịch sử (dù chỉ đưới dạng truyền thuyết: ghi lại sự kiện có rồng hiện lên khi Vua tới đất Kinh đô mới), thì tên gọi Hà Nội có tính cách địa lý, với nghĩa “bên trong sông”. Nhưng nếu xét kỹ trên bản đồ thì chỉ có Sông Nhị là địa giới Tỉnh Hà Nội cũ về phía Đông, còn Sông Hát và Sông Thanh Quyết không là địa giới, như vậy có bộ phận Tỉnh Hà Nội không nằm bên trong những con sông này. Và khi Hà Nội trở thành nhượng địa của Pháp, tên gọi lại càng không tương xứng với thực địa...
Trung văn đại từ điển, tập 19 (Đài Bắc 1967, tr.103) cho biết Hà Nội là tên một quận được đặt từ đời Hán (202 Tr.CN - 220 S.CN) nằm phía Bắc Sông Hoàng Hà. Tên Hà Nội từng được ghi trong Sử ký của Tư Mã Thiên (hạng Vũ Kỷ), kèm lời chú giải: “Kinh đô đế vương thời xưa phần lớn ở phía Đông Sông Hoàng Hà, cho nên gọi phía Bắc Sông Hoàng Hà là Hà Ngoại”. Rất có thể Minh Mạng đã chọn tên gọi Hà Nội, một tên hết sức bình thường để thay tên gọi Thăng Long đầy gợi cảm, nhưng tên gọi mới Hà Nội này lại có thể được giải thích là “đất Kinh đô các đế vương thời xưa”, để đối phó với những điều dị nghị. Chính cách đặt tên đất “dựa theo sách cũ” đã lại được thực thi, sau này, năm 1888 Thành Hà Nội và phụ cận trở thành nhượng địa của thực dân Pháp, tỉnh lỵ Hà Nội phải chuyển tới Làng Cầu Đơ (thuộc Huyện Thanh Oai, Phủ Hoài Đức), cần có một tên tỉnh mới. Người ta đã dựa vào một câu trong sách Mạnh Tử (Lương Huệ Vương, thượng, 3) “Hà Nội mất mùa, thì đưa dân đó về Hà Đông, đưa thóc đất này về Hà Nội, Hà Đông mất mùa cũng theo phép đó”. Dựa theo câu trên, người ta đặt tên tỉnh mới là Hà Đông, tuy rằng tỉnh này nằm ở phía Tây Sông Nhị, theo thực địa phải đặt tên là Hà Tây mới đúng.

Tên không chính quy
Là những tên trong văn thơ, ca dao, khẩu ngữ... dùng để chỉ Thành Thăng Long - Hà Nội.

1. Trường An - (Tràng An): Vốn là tên Kinh đô của hai triều đại phong kiến thịnh trị vào bậc nhất của nước Trung Quốc: Tiền Hán (206 Tr. CN - 8 S.CN) và Đường (618 - 907). Do đó, được các nhà Nho Việt Nam xưa sử dụng như một danh từ chung chỉ Kinh đô. Từ đó, cũng được người bình dân sử dụng nhiều trong ca dao, tục ngữ chỉ Kinh đô Thăng Long.
Thí dụ:
Chẳng thơm cũng thể hoa nhài. Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An. Rõ ràng chữ Trường An ở đây là để chỉ Kinh đô Thăng Long.

2. Phượng Thành (Phụng Thành)
Vào đầu Thế kỷ XVI, ông Trạng Nguyễn Giản Thanh người Bắc Ninh có bài phú Nôm rất nổi tiếng: Phượng Thành xuân sắc phú (Tả cảnh sắc mùa Xuân ở Thành Phượng).
Nội dung của bài phú trên là tả cảnh mùa Xuân của Thăng Long đời Lê. Phụng Thành hay Phượng Thành được dùng trong văn học Việt Nam để chỉ Thành Thăng Long.

3. Long Biên. - Là nơi quan lại nhà Hán, Ngụy, Tấn, Nam Bắc triều (Thế kỷ III, IV, V, và VI) đóng trụ sở ở Giao Châu (tên nước ta thời ấy). Sau đó, đôi khi cũng được dùng trong thơ văn để chỉ Thăng Long - Hà Nội. Sách Quốc triều đăng khoa lục có đoạn chép về tiểu sử Tam nguyên Trần Bích San (1838 - 1877), ghi lại bài thơ của Vua Tự Đức viếng ông, có hai câu đầu như sau:
Long Biên tài hướng Phượng Thành hồi Triệu đối do hy vĩnh biệt thôi!
Dịch nghĩa:
Nhớ người vừa tự Thành Long Biên về tới Phượng Thành Trẫm còn đang hy vọng triệu ngươi vào triều bàn đối, bỗng vĩnh biệt ngay. Thành Long Biên ở đây, Vua Tự Đức dùng để chỉ Hà Nội, bởi vì bấy giờ Trần Bích San đang lĩnh chức Tuần phủ Hà Nội. Năm 1877, Vua Tự Đức triệu ông về Kinh đô Huế để sung chức sứ thần qua nước Pháp, chưa kịp đi thì mất.

4. Long thành. - Là tên gọi tắt của Kinh thành Thăng Long. Nhà thơ thời Tây Sơn Ngô Ngọc Du, quê ở Hải Dương, từ nhỏ theo ông nội lên Thăng Long mở trường dạy học và làm thuốc. Ngô Ngọc Du là người được chứng kiến trận đại thắng quân Thanh ở Đống Đa - Ngọc Hồi của Vua Quang Trung. Sau chiến thắng Xuân Kỷ Dậu (1789), Ngô Ngọc Du có viết bài Long Thành quang phục kỷ thực (Ghi chép việc khôi phục Long Thành).

5. Hà Thành. - Là tên gọi tắt của Thành phố Hà Nội được dùng nhiều trong thơ ca để chỉ Hà Nội. Thí dụ như bài Hà Thành chính khí ca của Nguyễn Văn Giai, bài Hà Thành thất thủ, tổng vịnh (khuyết danh), Hà Thành hiểu vọng của Ba Giai(?)...

6. Hoàng Diệu. - Ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, đôi khi trong các báo chí của ta, chúng ta sử dụng tên này để chỉ Hà Nội. (Thành Hoàng Diệu).

Ngoài ra, trong cách nói dân gian còn nhiều từ được dùng để chỉ Thăng Long - Hà Nội như: Kẻ Chợ (Khéo tay hay nghề đất lề Kẻ Chợ - Khôn khéo thợ thầy Kẻ Chợ); Thượng Kinh, tên này để nói đất Kinh Đô ở trên mọi nơi khác trong nước, dùng để chỉ Kinh đô Thăng Long (Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, Chẳng lịch cũng thể con người Thượng Kinh). hoặc trong tác phẩm: Thượng Kinh ký sự của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác; Kinh Kỳ, tên này nói đất có Kinh đô đóng (Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến); Và đôi khi chỉ dùng một từ như “Ăn Bắc, mặc Kinh”. Bắc đây chỉ vùng Kinh Bắc (Bắc Ninh), Kinh chỉ Kinh đô Thăng Long.
Loại tên không chính quy của Thăng Long - Hà Nội còn nhiều, được người đời sử dụng khá linh hoạt trong văn học, ca dao... kể ra đây chưa hết...
(Trích Tổng tập Nghìn năm văn hiến Thăng Long)
Đọc tiếp →

31 tháng 8, 2010

Ngày truyền thống Công an Nhân dân Việt Nam (19/8/1945)

I. Các tổ chức tiền thân của Công an nhân dân Việt Nam; Ngày truyền thống Công an nhân dân và Ngày hội “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”
1. Các tổ chức của Công an nhân dân Việt Nam.
Ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta thường xuyên quan tâm xây dựng, củng cố các lực lượng vũ trang cách mạng. Trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930 - 1931), “Đội Tự vệ đỏ” được thành lập để hỗ trợ và bảo vệ quần chúng nổi dậy; bảo vệ cán bộ và các phiên tòa của Xô Viết - Công Nông; giữ gìn an ninh trật tự những nơi có chính quyền Xô Viết.
Tháng 3/1935, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ Nhất thông qua Nghị quyết quan trọng về “Đội Tự vệ”, xác định: “Không một sản nghiệp nào, một làng nào có cơ sở của Đảng, của Đoàn, của các Hội quần chúng cách mạng mà không có tổ chức Đội tự vệ, đó là khẩu hiệu của chúng ta hiện nay”. Khi cuộc vận động Mặt trận Dân chủ Đông Dương phát triển thành cao trào cách mạng rộng lớn, Đảng chỉ thị: “Mỗi ấp phải tổ chức ra Đội Tự vệ để ngăn cản những kẻ phá rối cuộc đấu tranh và đối phó với các lực lượng phản động”.
Tháng 9/1939, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, thực dân Pháp đàn áp khốc liệt phong trào cách mạng Việt Nam, hàng ngàn cán bộ, đảng viên bị địch bắt, tù đày, Đảng ta rút vào hoạt động bí mật. Đầu năm 1940, Trung ương Đảng chủ trương thành lập và trực tiếp chỉ đạo “Ban Công tác đội” làm nhiệm vụ bảo vệ an toàn khu, bảo vệ cán bộ cao cấp của Đảng, giải thoát cho cán bộ khi bị địch bắt.
Ngày 15/5/1945, Xứ ủy Bắc kỳ thành lập “Đội danh dự trừ gian” do Xứ ủy trực tiếp chỉ đạo, thực hiện nhiệm vụ diệt trừ bọn việt gian đầu sỏ và vũ trang tuyên truyền, chiến đấu khi cần thiết. Ngày 04/6/1945, Tổng bộ Việt Minh tuyên bố thành lập khu giải phóng đồng thời công bố 10 chính sách lớn của Việt Minh. Các tổ chức Đội trinh sát”, “Đội hộ lương diệt ác” lần lượt ra đời cùng với Đội tự vệ đỏ”, “Ban Công tác đội” Đội danh dự trừ gian” làm nhiệm vụ chống Nhật, trừ khử việt gian, trừng trị bọn lưu manh, bảo vệ chính quyền cách mạng, thực hiện 10 chính sách lớn của Việt Minh. Đây chính là các tổ chức tiền thân của Công an nhân dân Việt Nam.
2. Ngày truyền thống Công an nhân dân Việt Nam (19/8/1945 - 19/8/2010) và Ngày hội “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” (19/8/1945 - 19/8/2010)
Ngày 19/8/1945, cuộc Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi ở Hà Nội. Ở các tỉnh Bắc Bộ đã thành lập Sở Liêm phóng, Trung Bộ lập Sở Trinh sát, Nam Bộ lập Quốc gia tự vệ cuộc. Tuy tên gọi ở 3 miền khác nhau, nhưng các tổ chức đầu tiên của Công an nhân dân đều có chung nhiệm vụ trấn áp bọn phản cách mạng, giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng và tài sản của nhân dân. Ngày 19/8/1945 được xác định là Ngày truyền thống Công an nhân dân Việt Nam. Ngày 13/6/2005, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 521/QĐ-TTg, Quy định ngày 19 tháng 8 hàng năm là Ngày hội “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”. Ngày 12/12/2005, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký Lệnh số 30/2005/L-CTN công bố Luật Công an nhân dân, trong đó quy định; “Ngày 19 tháng 8 hàng năm là Ngày truyền thống của Công an nhân dân và là ngày hội “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”.

II. Những chặng đường lịch sử vẻ vang của Công an nhân dân Việt Nam qua 65 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành (1945 – 2010)
1. Công an nhân dân trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954)
Chính quyền cách mạng non trẻ vừa được thành lập đã phải đương đầu với những thử thách cực kỳ nghiêm trọng, vận mệnh của dân tộc như “Ngàn cân treo sợi tóc”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng Công an nhân dân đã làm nòng cốt trong cuộc đấu tranh chống phản cách mạng; bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền và thành quả cách mạng.
Hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch, lực lượng Công an nhân dân đã cùng với quân và dân cả nước tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược. Với tinh thần “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”, lực lượng Công an đã anh dũng tiến công, tiêu diệt, vây hãm địch, bảo vệ an toàn các cơ quan chính quyền, đoàn thể, tài sản quốc dân và của nhân dân.
Trong vùng địch tạm chiếm, Công an nhân dân đã xây dựng cơ sở nắm tình hình, tham gia diệt ác, phá tề, trừ gian, trấn áp bọn mật thám, phản động, tổ chức nhiều trận đánh trong lòng địch. Tổ Điệp báo A13 của Ty Điệp báo, Nha Công an Trung ương đã đưa người vào hàng ngũ địch, nắm được nhiều tin tức có ý nghĩa chiến lược. Ngày 29/9/1950, tại vùng biển Sầm Sơn, Thanh Hóa, Tổ Điệp báo A13 đã sử dụng thuốc nổ đánh đắm Thông báo hạm lớn nhất Đông Dương của Pháp Amio Đanhvin, diệt hơn 200 sĩ quan, thủy thủ và binh lính Pháp, đánh dấu bước trưởng thành của Công an nhân dân Việt Nam và sự thất bại thảm hại của tình báo, phản gián Pháp.
Trong vùng tự do và căn cứ cách mạng, ta đã bố trí lại lực lượng trinh sát, bảo vệ vũ trang và tổ chức Công an xã; đẩy mạnh đấu tranh chống hoạt động do thám, gián điệp và bọn phản động tay sai; phối hợp với các lực lượng vũ trang bẻ gãy nhiều cuộc càn quét của địch, bảo vệ hậu phương và khu căn cứ kháng chiến. Ở các tỉnh Nam Bộ, lực lượng Quốc gia tự vệ cuộc phối hợp với các lực lượng vũ trang dũng cảm chiến đấu cản bước tiến của quân Pháp.
Trên khắp các chiến trường, lực lượng Công an nhân dân đã phối hợp với lực lượng Quân báo thực hiện tốt công tác nắm tình hình, bảo vệ bí mật quân sự, bảo vệ an toàn giao thông liên lạc và các cuộc hành quân, trú quân, bảo vệ an toàn lãnh tụ và các cơ quan đầu não; tổ chức phá tề, trừ gian, bao vây kinh tế địch; bắt hầu hết các toán gián điệp, biệt kích…
Cùng với quá trình chiến đấu, công tác xây dựng lực lượng Công an nhân dân luôn được Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm, chăm lo xây dựng, phát triển không ngừng:
- Ngày 21/2/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 23-SL thành lập Việt Nam Công an vụ. Ngày 13/3/1947, Bộ Nội vụ ra Nghị định số 36-NĐ “Ủy quyền cho Ủy ban Kháng chiến Hành chính khu thiết lập quận Công an trong phạm vi các tỉnh”.
- Ngày 11/3/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng chí Giám đốc Công an Khu XII, trong thư Người đã dạy cán bộ, chiến sĩ Công an phải rèn luyện Tư cách người Công an Cách mệnh là:
Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính
Đối với đồng sự, phải thân ái, giúp đỡ
Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành
Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép
Đối với công việc, phải tận tụy
Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo.
- Ngày 12/5/1951, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 05-CT/TW, quy định nhiệm vụ và tổ chức Nha Công an Việt Nam (trực thuộc Bộ Nội vụ).
- Ngày 16/02/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 141-SL đổi Nha Công an Việt Nam thành Thứ Bộ Công an, gồm 7 đơn vị trực thuộc Bộ, các khu, sở, ty Công an và hệ thống tổ chức Công an cấp huyện, cấp xã.
Tại kỳ họp từ ngày 27/8 đến 29/8/1953, Hội đồng Chính phủ ra Nghị quyết đổi tên Thứ bộ Công an thành Bộ Công an. Đây là sự kiện đánh dấu bước trưởng thành, lớn mạnh của Công an nhân dân Việt Nam.
Trải qua 9 năm kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh, lực lượng Công an nhân dân luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, mưu trí, dũng cảm chiến đấu, lập nhiều chiến công thầm lặng nhưng vô cùng oanh liệt, đấu tranh làm thất bại mọi hoạt động gián điệp, do thám của thực dân Pháp; đập tan âm mưu hoạt động đảo chính, lật đổ chính quyền dân chủ nhân dân của các thế lực tay sai phản động; bảo vệ tuyệt đối an toàn khu căn cứ địa cách mạng và các cơ quan đầu não của Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân; đấu tranh bài trừ lưu manh, trộm cướp, giữ gìn an ninh, bảo vệ tính mạng, tài sản và cuộc sống của nhân dân.

2. Công an nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1954 - 1975)
Sau ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai sử dụng bọn tình báo, gián điệp cài cắm vào những địa bàn quan trọng; tiến hành các hoạt động chống phá công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế ở miền Bắc.
Trước tình hình đó, lực lượng Công an nhân dân đã nhanh chóng chuyển hướng về tổ chức và hành động, tiến hành đấu tranh dập tắt các vụ nhen nhóm phản động và hoạt động gây bạo loạn của bọn phản cách mạng; đấu tranh bóc gỡ mạng lưới gián điệp cài lại của Pháp, bắt gọn hầu hết các toán gián điệp, biệt kích của Mỹ và bè lũ tay sai tung ra phá hoại miền Bắc. Bảo vệ tuyệt đối an toàn các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các cơ sở kinh tế, cơ quan, xí nghiệp, các công trình quốc phòng, an ninh, công trình văn hóa - xã hội, bảo vệ tài sản của Nhà nước, tính mạng, tài sản của nhân dân; tổ chức sơ tán nhân dân khỏi những vùng chiến sự ác liệt. Đấu tranh trấn áp, bắt giữ, xử lý hàng trăm tội phạm nguy hiểm; kịp thời dập tắt các vụ cháy lớn, làm giảm đến mức thấp nhất thiệt hại do chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ gây ra, góp phần giữ vững an ninh trật tự, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
Với tinh thần “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, lực lượng Công an nhân dân đã bảo vệ an toàn các kế hoạch, địa điểm chuyển quân, chuyển hàng, kho tàng, bến bãi và các cuộc hành quân của bộ đội vào chiến trường miền Nam. Hàng vạn cán bộ, chiến sĩ Công an cùng hàng trăm tấn vũ khí, tài liệu, phương tiện thông tin liên lạc đã được chi viện cho An ninh miền Nam; tổ chức nhiều trận đánh tiêu diệt địch ngay trong sào huyệt của chúng, trấn áp bọn phản động, trừng trị ác ôn; phá tan nhiều kế hoạch tình báo của Mỹ - ngụy.
Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Cục và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, lực lượng An ninh miền Nam đã phát động sâu rộng phong trào “Bảo mật phòng gian”; phối hợp với các lực lượng vũ trang trên khắp các chiến trường, đồng loạt mở nhiều chiến dịch, bẻ gãy các cuộc tiến công, lấn chiếm, đưa địch vào thế bị động, bất ngờ, hoang mang, rối loạn và tan rã; bảo vệ tuyệt đối an toàn các cơ quan đầu não, các cuộc hành quân, vận chuyển vũ khí, phương tiện, lương thực; bảo vệ bí mật các kế hoạch và các mũi tấn công chiến lược, góp phần đánh bại các chiến lược “Chiến tranh đơn phương”, “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ.
Công tác xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong thời kỳ này luôn được Đảng, Chính phủ và Chú tịch Hồ Chí Minh quan tâm:
Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng có nhiều Nghị quyết quan trọng chỉ đạo xây dựng lực lượng Công an nhân dân trở thành công cụ chuyên chính sắc bén, tuyệt đối trung thành với Đảng, có liên hệ mật thiết với quần chúng, là lực lượng chiến đấu vững mạnh, có tính chất vũ trang, có tổ chức chặt chẽ, thông thạo về nghiệp vụ, có trình độ khoa học - kỹ thuật và đặt lực lượng Công an nhân dân dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng.
Ngày 20/7/1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh số 34/LCT công bố Pháp lệnh Quy định nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng Cảnh sát nhân dân và Pháp lệnh Quy định chế độ cấp bậc sĩ quan, hạ sĩ quan Cảnh sát nhân dân.

3. Công an nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (1975 - 2010)
Ngày 30/4/1975, với chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, đất nước ta được hòa bình, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng Công an nhân dân đã tích cực tham gia xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng ở vùng mới giải phóng, tổ chức quản lý, cải tạo binh lính, nhân viên của chế độ cũ, truy quét tàn quân địch, đấu tranh làm tan rã các tổ chức Ful - rô, bắt hàng ngàn tên, bóc gỡ hàng trăm khung chính quyền ngầm của địch; chủ động đấu tranh bóc gỡ toàn bộ mạng lưới gián điệp, tình báo của đế quốc Mỹ và tay sai cài lại theo kế hoạch hậu chiến; bắt gọn hàng trăm toán gián điệp, biệt kích của các thế lực thù địch từ bên ngoài xâm nhập vào Việt Nam; đập tan âm mưu và hoạt động của bọn phản động lưu vong xâm nhập móc nối với bọn phản động trong nước âm mưu gây bạo loạn, lật đổ chính quyền.
Từ năm 1986 đến nay, đất nước ta tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, phản động ráo riết tiến hành chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn, lật đổ nhằm phủ định sự lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; triệt để lợi dụng các vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền” để kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Lực lượng Công an nhân dân đã đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội, giữ vững ổn định chính trị. Xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững mạnh; tham mưu và trực tiếp giải quyết nhiều vụ, việc phức tạp liên quan đến tôn giáo, dân tộc, an ninh kinh tế, an ninh văn hóa - tư tưởng; phối hợp bảo vệ an toàn tuyệt đối các sự kiện chính trị, văn hóa, xã hội trọng đại của đất nước; chủ động phòng ngừa và liên tục mở nhiều đợt tấn công, truy quét tội phạm, đặc biệt là tội phạm có tổ chức; triệt phá nhiều băng, nhóm tội phạm hoạt động theo kiểu “xã hội đen”, nhiều vụ án về ma túy lớn, ngăn chặn và đẩy lùi tệ nạn xã hội, từng bước thiết lập giao thông, làm tốt công tác phòng cháy, chữa cháy; đẩy mạnh công tác đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu, gian lận thương mại, lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, khám phá nhiều vụ án kinh tế lớn… góp phần tạo môi trường chính trị, xã hội ổn định, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và quá trình hội nhập kinh tế thế giới.
Công tác xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong thời kỳ này luôn được Đảng, Nhà nước và Chính phủ quan tâm xây dựng, củng cố, phát triển:
- Ngày 14/11/1987, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ký Lệnh số 01/LCT-HĐNN công bố Pháp lệnh về lực lượng An ninh nhân dân và quy định chế độ cấp bậc sĩ quan, hạ sĩ quan An ninh nhân dân.
- Ngày 14/11/2003, Chính phủ ra Nghị định số 136/NĐ-CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức Bộ Công an.
- Ngày 12/12/2005, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký sắc lệnh số 30/2005/L-CTN công bố Luật Công an nhân dân.
Hiện nay, lực lượng Công an nhân dân bước đầu tham gia có hiệu quả trong các tổ chức An ninh, Cảnh sát quốc tế và khu vực.

III. Những phần thưởng cao quý của Đảng, Nhà nước tặng các tập thể, cá nhân lực lượng Công an nhân dân (tính đến tháng 12/2009)
- 03 Huân chương Sao Vàng, tặng lực lượng Công an nhân dân.
- 07 Huân chương Sao Vàng tặng: lực lượng An ninh nhân dân (1995), lực lượng Tình báo (1995), lực lượng Cảnh sát nhân dân (2003), Bộ Tư lệnh Cảnh vệ (2003), Tổng cục An ninh nhân dân (2006), Tổng cục Tình báo (2006), lực lượng Bảo vệ Chính trị I (2008).
- 03 Huân chương Sao Vàng, tặng các đồng chí Bộ trưởng: Phạm Hùng, Trần Quốc Hoàn và Mai Chí Thọ.
- 01 Huân chương Hồ Chí Minh, tặng lực lượng Công an nhân dân (năm 1975).
- 77 Huân chương Hồ Chí Minh, tặng Công an các đơn vị, địa phương;
- 10 Huân chương Hồ Chí Minh, tặng cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân;
- 635 tập thể, 321 cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; 1 tập thể và 1 cán bộ Công an nhân dân được phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới;
- Hàng ngàn tập thể và cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân được tặng Huân chương Độc lập, Huân chương Quân công, Huân chương Chiến công, Huân chương Bảo vệ Tổ quốc. Hàng ngàn tập thể và cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân được tặng Huy chương các loại và Bằng khen của Chính phủ.

IV. Truyền thống vẻ vang của Công an nhân dân Việt Nam
Trải qua 65 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, được nhân dân hết lòng thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Công an đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, lập nhiều thành tích, chiến công xuất sắc, viết nên truyền thống vẻ vang của Công an nhân dân Việt Nam.

1. Công an nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng Cộng sản Việt Nam, với Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nhân dân Việt Nam; suốt đời phấn đấu, hi sinh vì độc lập, tự do, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, vì an ninh Tổ quốc.
2. Công an nhân dân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ, dựa vào dân để làm việc và chiến đấu thắng lợi.
3. Công an nhân dân không ngừng tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư.
4. Công an nhân dân phát huy cao độ tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, tận tụy với công việc, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
5. Công an nhân dân đoàn kết, thống nhất, dân chủ, kỷ luật nghiêm minh, phối hợp hiệp đồng chặt chẽ với các cấp, các ngành, các lực lượng.
6. Công an nhân dân cảnh giác, bí mật, mưu trí, dũng cảm, cương quyết, khôn khéo, tích cực phòng ngừa, chủ động tiến công kẻ địch và bọn tội phạm.
7. Công an nhân dân không ngừng học tập nâng cao trình độ chính trị, nghiệp vụ và năng lực công tác; tiếp thu, vận dụng sáng tạo, hiệu quả thành tựu khoa học - kỹ thuật và công nghệ phục vụ công tác, chiến đấu.
8. Công an nhân dân nêu cao tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng, thủy chung, có nghĩa, có tình.

V. Kết quả 5 năm Ngày hội “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”
1. Ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 521/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2005, về việc lấy ngày 19 tháng 8 hàng năm là Ngày hội “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, cấp ủy, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể chính trị - xã hội đã tập trung tuyên truyền, giáo dục giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của Ngày hội “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, tạo chuyển biến mới về nhận thức của cấp ủy, chính quyền các cấp đối với công tác an ninh trật tự, đa dạng hóa các hình thực tập hợp, động viên cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia có hiệu quả phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc tại địa bàn cơ sở, góp phần giữ vững sự ổn định chính trị của đất nước, thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
2. Lực lượng Công an đã chủ động tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền các cấp ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức quán triệt, thực hiện Quyết định số 521 của Thủ tướng Chính phủ; xây dựng và từng bước hoàn thiện cơ chế “Đảng lảnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ trên lĩnh vực bảo vệ an ninh trật tự ở cơ sở”; phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên đẩy mạnh thực hiện phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” gắn với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” và các phong trào thi đua yêu nước của địa phương; xây dựng lực lượng Công an xã, bảo vệ dân phố, bảo vệ cơ quan, doanh nghiệp trong sạch, vững mạnh, hướng về cơ sở và địa bàn dân cư; triển khai, thực hiện tốt Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh - Công an nhân dân vì nước quên thân, vì dân phục vụ” và phong trào thi đua “Công an nhân dân học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy”.
3. Bộ Công an đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo tổ chức thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về Ngày hội “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”; khen thưởng đối với tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”; thông báo kinh nghiệm hay và điển hình tiên tiến để nhân rộng ra các địa phương trong toàn quốc.
4. Vào dịp 19 tháng 8 hàng năm, cấp ủy, chính quyền các cấp đã chỉ đạo tổ chức tốt Ngày hội “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” với nhiều hoạt động phong phú, thiết thực ở cả 3 cấp: cơ sở, huyện, tỉnh, thành phố, thực sự trở thành ngày hội biểu dương sức mạnh của quần chúng nhân dân đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc.
5. Thông qua phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” 5 năm qua, các tầng lớp nhân dân đã cung cấp hàng vạn tin liên quan đến an ninh trật tự, giúp lực lượng Công an điều tra khám phá hàng chục ngàn vụ án; cảm hóa, giáo dục hàng vạn đối tượng tại gia đình và địa phương, giúp đỡ, tạo điều kiện cho những người lầm lỡ hoàn lương, tái hoà nhập cộng đồng; xây dựng nhiều mô hình tự quản về an ninh trật tự tại cơ sở, địa phương.

VI. CÔNG AN NHÂN DÂN PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG VẺ VANG, THỰC HIỆN THẮNG LỢI CÁC MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA, GIỮ GÌN TRẬT TỰ AN TOÀN XÃ HỘI TRONG GIAI ĐOẠN MỚI
Trong những năm tới, tình hình quốc tế và khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục có những biến đổi phức tạp, khó lường. Mặc dù hòa bình, hợp tác vẫn là xu hướng lớn, nhưng chiến tranh cục bộ, khủng bố, xung đột sắc tộc, tôn giáo, lãnh thổ, biển, đảo, tranh giành tài nguyên cùng với tình trạng đói nghèo, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, thảm họa thiên tai, môi trường… đang trở thành những vấn đề mang tính toàn cầu, tiềm ẩn nguy cơ đe dọa hòa bình, ổn định và phát triển trên toàn thế giới.
Ở trong nước, bên cạnh những thời cơ thuận lợi, đất nước ta đang phải đối mặt với những nguy cơ, thách thức không nhỏ. Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình” kích động bạo loạn, lật đổ; triệt để lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền gây mất ổn định chính trị. Tình hình tham nhũng tiêu cực, sự xuất hiện tội phạm mới và hoạt động của bọn tội phạm có tổ chức, tội phạm công nghệ cao, tội phạm ma tuý, tội phạm về môi trường, tệ nạn xã hội, trật tự an toàn giao thông… tiếp tục diễn biến phức tạp, trở thành mối quan tâm lớn của toàn xã hội. Nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội đặt ra hết sức nặng nề, khó khăn, phức tạp.

1. Mục tiêu tổng quát
Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn và tích cực đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch, không để xảy ra đột xuất, bất ngờ; chủ động phòng ngừa và tích cực đấu tranh trấn áp tội phạm, giữ vững an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Xây dựng lực lượng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

2. Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu
- Xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh, thống nhất chỉ huy, chỉ đạo xuyên suốt từ Trung ương đến Công an cơ sở. Bố trí lực lượng Công an nhân dân theo hướng tinh gọn, tăng cường cho cơ sở, lực lượng trực tiếp chiến đấu và địa bàn trọng điểm. Kiện toàn tổ chức bộ máy Bộ Công an. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ, chiến sĩ Công an.
- Tham mưu với Đảng, Nhà nước về các chủ trương, biện pháp phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, sức mạnh của toàn dân thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự; xây dựng thế trận an ninh nhân dân và thế trận quốc phòng toàn dân vững mạnh toàn diện; kết hợp chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội với các chiến lược, chính sách về xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng và đối ngoại của Nhà nước.
- Triển khai, thực hiện các biện pháp nghiệp vụ về công tác tình báo, phản gián, bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, an ninh văn hóa - tư tưởng, an ninh kinh tế, an ninh xã hội, an ninh thông tin, an ninh khoa học - kỹ thuật, các công trình trọng điểm về an ninh quốc gia và các sự kiện quan trọng của đất nước.
- Bảo vệ tuyệt đối an toàn cán bộ cấp cao và trụ sở làm việc các cơ quan trọng yếu của Đảng, Nhà nước, các mục tiêu quan trọng về chính trị, kinh tế, ngoại giao, khoa học - kỹ thuật và các đoàn khách quốc tế đến làm việc tại Việt Nam.
- Tổ chức, thực hiện công tác quản lý về bảo vệ bí mật Nhà nước và bí mật nghiệp vụ Công an.
- Chủ động phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội phạm hình sự và các vi phạm pháp luật về trật tự an toàn xã hội; kịp thời phát hiện nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm và kiến nghị biện pháp khắc phục.
- Tổ chức, thực hiện công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông, phòng cháy, chữa cháy, thi hành án hình sự, quản lý, giáo dục phạm nhân; tiến hành tốt các mặt công tác quản lý nhà nước về an ninh trật tự.
- Phối hợp với các bộ, ngành và các cấp chính quyền trong việc bảo vệ quyền tự do, dân chủ, tính mạng, tài sản của nhân dân; phát động sâu rộng phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao cảnh giác và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của các tầng lớp nhân dân; tổ chức giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh; tham gia quản lý, giáo dục đối tượng vi phạm tại cộng đồng dân cư.
- Nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại phục vụ công tác bảo vệ an ninh, trật tự, xây dựng cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật đáp ứng các yêu cầu hoạt động, công tác, chiến đấu của Công an nhân dân.
- Thực hiện hợp tác quốc tế trên lĩnh vực bảo vệ an ninh trật tự.

VII. CÔNG AN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - XÂY DỰNG, CHIẾN ĐẤU VÀ TRƯỞNG THÀNH:

Gắn liền với nhiệm vụ ba thời kỳ cách mạng lớn của đất nước, cùng với truyền thống vẻ vang của lực lượng Công an nhân dân, lực lượng Công an nhân dân Thành phố sớm ra đời, xây dựng, chiến đấu và trưởng thành trong 65 năm qua, lập nên những chiến công hào hùng và truyền thống tốt đẹp.

Sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 26 tháng 8 năm 1945 “Quốc gia tự vệ cuộc Nam bộ” được thành lập, trực tiếp phụ trách địa bàn Sài Gòn - Chợ Lớn với nhiệm vụ trấn áp bọn tình báo, gián điệp, phản cách mạng, tham gia xây dựng, phát triển lực lượng cách mạng ở các địa phương, tuyên truyền, giáo dục vận động quần chúng nhân dân tham gia kháng chiến, giúp Quốc gia tự vệ cuộc bảo vệ đảng và chính quyền cách mạng còn non trẻ và chuẩn bị lực lượng đối phó với âm mưu xâm lược của thực dân Pháp.

Trong những năm 1947-1950, cuộc kháng chiến của nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định có bước phát triển lớn mạnh; guồng máy kháng chiến được củng cố và đặt dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng. Bộ máy công an Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định được tổ chức tương đối hoàn chỉnh, các mặt hoạt động được tăng cường và đẩy mạnh, liên tiếp trừng trị những tên Việt gian có nợ máu với nhân dân, tiêu diệt hàng trăm tên, vừa lính Pháp, vừa tay sai và vận động đồng bào đấu tranh, hỗ trợ đắc lực cho phong trào cách mạng tại thành phố. Trước thắng lợi dồn dập của ta trên chiến trường cả nước, địch buộc phải dàn mỏng lực lượng để đối phó. Công an Sài Gòn - Chợ Lớn đã tận dụng thời cơ, giành thế chủ động, tấn công nhiều đồn bót địch, kho bom Phú Thọ Hòa.

Ngày 20/7/1954, Hiệp định Giơ - ne - vơ được ký kết, thực hiện chỉ đạo của Xứ ủy và Sở Công an Nam bộ, Công an Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn và Công an Gia Định - Ninh phân công một số cán bộ, chiến sĩ tập kết ra Bắc, một số ở lại chiến trường miền Nam; Ban sưu tập I (thuộc Ban địch tình Xứ ủy) tiếp tục bám trụ, kiên trì hoạt động, vượt qua mọi hiểm nguy để xây dựng cơ sở bí mật, thu thập tin tức địch tình, khoét sâu mâu thuẫn Pháp - Mỹ, phá rối chính quyền ngụy để ta tranh thủ thời gian xây dựng lực lượng và củng cố cơ sở cách mạng.

Ngày 19/3/1961, Ban bảo vệ an ninh khu Sài Gòn - Gia Định được thành lập (gọi tắt là ANT4). Lực lượng ANT4 vừa bảo vệ Đảng, bảo vệ căn cứ, thu thập tin tức của địch, vừa tập trung xây dựng và phát triển lực lượng, phối hợp với các lực lượng vũ trang địa phương chống địch càn quét, diệt ác phá kềm, luồn sâu vào các ấp chiến lược kết hợp lực lượng nòng cốt, điều tra, phân loại tề ngụy, ác ôn để có biện pháp xử lý thích hợp; bám đất, bám dân, đào hầm bí mật ngay trong các ấp chiến lược, phát động quần chúng tại chỗ nổi dậy phá ấp chiến lược.

Tháng 1/1973 Hiệp định Paris được ký kết, đế quốc Mỹ vẫn tiếp tục thực hiện chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, ngụy quân ráo riết tiến hành “Cuộc chiến tranh lấn chiếm và bình định”. Tại Sài Gòn - Gia Định, cuộc kháng chiến của quân dân thành phố vẫn tiếp tục giữ vững thế tiến công nhằm tạo thế và lực mới, chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng. Trong nội thành, lực lượng điệp báo ANT4 ra sức củng cố phát triển các lõm chính trị, chống phá nội gián, bảo vệ nội bộ; tích cực tác động các văn sĩ, trí thức đẩy mạnh các phong trào đấu tranh chống tập đoàn tay sai Nguyễn Văn Thiệu.

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, lực lượng ANT4 đã thực hiện nhiệm vụ Thành ủy giao: chiếm lĩnh các mục tiêu quan trọng như Bộ Tư lệnh cảnh sát quốc gia, Bộ chỉ huy cảnh sát đô thành, các Ty cảnh sát quốc gia quận. Nhiều cán bộ chiến sĩ và cơ sở của ANT4 đã dũng cảm mưu trí vào tận hang ổ của địch để vận động binh lính ngụy đầu hàng, đặc biệt là phát động quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ ở nhiều khu vực nội, ngoại thành và tại một số cơ quan, xí nghiệp, chiếm nhiều cơ quan của ngụy quyền trước khi lực lượng quân sự vào thành phố. Lực lượng điệp báo ANT4 còn góp phần cùng với các lực lượng khác, tác động, thúc đẩy Tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện, làm tan rã bộ máy chính quyền Trung ương Ngụy, góp phần rất lớn cho thắng lợi chung của dân tộc; hạn chế được thương vong và xương máu cho đồng bào, đồng chí trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh.

Sau ngày giải phóng, tình hình thành phố rất phức tạp về chính trị - xã hội, yêu cầu và nhiệm vụ của ngành công an rất nặng nề. Lực lượng ANT4 với tên gọi mới là Ban An ninh nội chính (tức Công an thành phố) đã nhanh chóng triển khai các mặt công tác, vừa làm công tác tiếp quản, phục vụ ổn định đời sống kinh tế - xã hội, xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng, vừa tập trung trấn áp các tàn dư của chế độ cũ, đặc biệt bọn phản cách mạng và thực hiện tốt chính sách khoan hồng - đầy tính nhân văn, nhân đạo của Đảng nên được sự đồng tình ủng hộ của đông đảo các tầng lớp nhân dân.

Trong giai đoạn 1976-1985: Ngày 03/7/1976, Quốc Hội chính thức quyết định đặt tên thành phố Sài Gòn-Gia Định là TP. Hồ Chí Minh, theo đó Ban An ninh Nội chính Sài Gòn - Gia Định chính thức đổi tên thành Sở Công an Thành phố Hồ Chí Minh. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp, chặt chẽ của Bộ Công an và Thành ủy và sự ủng hộ tích cực của quần chúng nhân dân, lực lượng Công an thành phố đã tích cực đấu tranh, bóc gỡ hơn 300 tổ chức phản động các loại, bắt giữ truy tố theo pháp luật hơn 2000 đối tượng, đưa tập trung cải tạo, cải tạo tại chỗ và kiểm điểm giáo dục trước nhân dân hàng ngàn đối tượng chính trị khác; thu giữ hàng tấn vũ khí, đạn dược, thuốc nổ, ngăn chặn kịp thời mọi hoạt động gây cháy, nổ, manh động phá hoại, ý đồ gây rối, gây bạo loạn của kẻ địch, đảm bảo an ninh nông thôn, đô thị, an ninh văn hóa tư tưởng và phục vụ được các yêu cầu chính trị của Đảng, Nhà nước tại thành phố.

Trên lĩnh vực đấu tranh chống tội phạm hình sự, lực lượng CATP đã liên tục mở các đợt tấn công, truy quét, bắt hàng chục ngàn tên, phá hàng trăm ổ nhóm lưu manh chuyên nghiệp, tiêu diệt nhiều băng cướp, bắt cóc có vũ trang. Ngoài ra, phong trào quần chúng bảo vệ An ninh Tổ quốc, công tác bảo vệ nội bộ, quản lý hộ khẩu, nhân khẩu cũng được triển khai đồng bộ.

Từ năm 1986 đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cùng với lực lượng công an cả nước, Công an Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục đấu tranh chống bọn tình báo gián điệp, các thế lực thù địch và các loại tội phạm khác trong tình hình đất nước mở cửa, hội nhập, có nhiều thời cơ và thách thức đan xen, hàng ngàn tên tội phạm trong các tổ chức phản cách mạng bị trấn áp. Đã tích cực tham mưu cho các cấp ủy, chính quyền kịp thời giải quyết các vụ khiếu kiện đông người, đình lãn công trong công nhân, đảm bảo an ninh nông thôn, an ninh đô thị và đảm bảo an ninh trong các lĩnh vực nội bộ, kinh tế, văn hóa tư tưởng, an ninh trong sinh viên, góp phần bảo vệ an toàn tuyệt đối các sự kiện chính trị, các hoạt động lễ hội, các đoàn khách quốc tế, phục vụ kịp thời chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội ở thành phố.

Trong công tác giữ gìn trật tự an toàn xã hội: Công an Thành phố đã tham mưu các cấp ủy Đảng, chính quyền và tổ chức thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu 3 giảm, mở nhiều đợt tấn công trán áp các loại tội phạm. Từ năm 1990 đến 2009 phạm pháp hình sự được kéo giảm, bình quân hàng năm từ 9,5% đến 15, 41%; khám phá hơn 140.000 vụ phạm pháp hình sự các loại, trong đó có nhiều băng nhóm tội phạm có tổ chức. Trong đấu tranh chống tội phạm kinh tế, môi trường: Công an thành phố đã tham mưu cho Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố nhiều biện pháp về quản lý kinh tế tài chính; hướng dẫn các cơ quan, doanh nghiệp triển khai thực hiện các chính sách, pháp luật có liên quan đến công tác bảo vệ kinh tế, bảo vệ cơ quan và thông báo những thủ đoạn của bọn tội phạm để các doanh nghiệp chủ động phòng ngừa. Bên cạnh đó CATP đã phát hiện, xử lý hơn 20.000 vụ vi phạm kinh tế, thu hồi số tài sản, truy thu thuế trị giá hàng ngàn tỷ đồng. Trong công tác giữ gìn trật tự giao thông đô thị, Công an thành phố đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân thành phố và Ban chỉ đạo an toàn giao thông thành phố tăng cường quản lý nhà nước về trật tự giao thông, đồng thời tuyên truyền giáo dục ý thức chấp hành luật lệ giao thông trong các tầng lớp nhân dân; tăng cường công tác tuần tra kiểm soát, xử lý nghiêm ác trường hợp vi phạm, chủ động giải quyết ùn tắc giao thông, tình hình trật tự giao thông có sự chuyển biến tích cực, trong 5 năm gần đây (2005 - 2009) tai nạn giao thông được kéo giảm trên cả 03 mặt (42,59% số vụ, 2,93% số người chết và 67,58% số người bị thương). Lực lượng Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy Thành phố đã tích cực tham mưu nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với công tác phòng cháy, chữa cháy. Số vụ cháy đã được kiềm chế và kéo giảm, số vụ cháy của năm sau giảm so với năm trước, mỗi năm bình quân kéo giảm được 25% số vụ cháy và 20% số vụ cháy lớn. Công tác chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ hiệu quả hơn, đã ngăn chặn kịp thời các vụ cháy lớn, tham gia các vụ cứu hộ, cứu nạn xảy ra trên địa bàn thành phố, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc do công an làm nòng cốt, đã tham mưu cho các cấp ủy Đảng, chính quyền xây dựng nhiều kế hoạch vận động quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc với nhiều nội dung, biện pháp thiết thực, phong phú, sinh động phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ từng giai đoạn mang lại hiệu quả cụ thể, duy trì và phát triển được phong trào rộng khắp và có chiều sâu. Chỉ tính từ năm 2000 đến nay, Công an phường, xã đã tham mưu cho cấp ủy, chính quyền tổ chức 632.764 cuộc họp phát động nhân dân tham gia giữ gìn an ninh trật tự ở khu dân cư với 31.736.143 lượt người dự, đóng góp 1.085.299 ý kiến; nhân dân đã tham gia giáo dục cảm hóa hơn 77.228 đối tượng; cung cấp 387.436 nguồn tin, trực tiếp phát hiện 16.057 vụ việc, bắt 20.485 đối tượng phạm pháp quả tang; vận động 2.075 đối tượng phạm pháp ra đầu thú, tự giác giao nộp hoặc báo cho cơ quan công an thu hồi 819 khẩu súng các loại, 45.774 viên đạn, 1.695 lựu đạn, trái nổ, góp phần cùng lực lượng công an chuyển hóa 11.051 địa bàn, tụ điểm phức tạp về an ninh trật tự. Gương người tốt, việc tốt xuất hiện ngày càng nhiều…

Sau 30/4/1975, cùng cả nước, Thành phố Hồ Chí Minh bước vào giai đoạn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thành phố được Đảng, Nhà nước xác định là trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ, đầu mối giao lưu quốc tế, có vị trí chính trị quan trọng của cả nước. Trên lĩnh vực giữ gìn an ninh trật tự, Thành phố được Bộ Công an xác định là một trong những trọng điểm toàn diện của cuộc đấu tranh chống địch phá hoại về an ninh chính trị và chống tội phạm. Để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, Công an Thành phố Hồ Chí Minh luôn quan tâm giáo dục, xây dựng toàn diện về tư cách người chiến sĩ Công an, trong đó đặc biệt coi trọng xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng; có đạo đức, lối sống trong sáng; có quan điểm quần chúng đúng đắn; có tinh thần tận tụy trong công việc và kiên quyết, khôn khéo trong chiến đấu. Bộ máy, tổ chức, biên chế luôn được củng cố, kiện toàn phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong từng giai đoạn. Thường xuyên coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, nghiệp vụ, khoa học kỹ thuật. Đặc biệt trong 5 năm gần đây đã tập trung chỉ đạo triển khai 2 cuộc vận động “Xây dựng lực lượng Công an nhân dân vì nước quên thân, vì dân phục vụ” và “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh - Công an nhân dân vì nước quên thân, vì dân phục vụ” được các cấp ủy Đảng, chính quyền đánh giá cao. Đa số cán bộ, chiến sĩ tích cực rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, chấp hành kỷ cương kỷ luật; nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công tác, tận tụy phục vụ nhân dân; ý thức tiết kiệm, chống lãng phí về thời gian làm việc, công sức và của cải vật chất có sự chuyển biến rõ nét. Hiệu quả công tác được nâng cao; đạo đức, lối sống của cán bộ, chiến sĩ có nhiều chuyển biến tích cực; thái độ, tinh thần phục vụ nhân dân, tác phong, ngôn phong, văn hóa ứng xử của cán bộ, chiến sĩ tốt hơn; sai phạm kỷ luật hàng năm được kéo giảm.

Nhìn lại chặng đường 65 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng Công an Thành phố Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, chiến sĩ có thể tự hào về những trang sử hào hùng vẻ vang của lực lượng Công an thành phố Hồ Chí Minh, góp phần tô đẹp thêm truyền thống oanh liệt của Công an nhân dân Việt Nam. Với những chiến công đó, từ năm 1975 đến nay, Công an Thành phố Hồ Chí Minh được Đảng, Nhà Nước và Bộ Công an tặng nhiều danh hiệu cao quý:

- Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (1981); Huân chương Hồ Chí Minh; Huân chương chiến công hạng II (1985); 02 Huân chương Quân công hạng I, III (1996,) 02 Huân chương lao động hạng I, II (1997, 2004); 02 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng I ( 2005,2007), 01 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng III (2006).

Ngoài ra, có 16 tập thể, 30 cá nhân thuộc Công an Thành phố được Nhà nước phong tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; hàng ngàn lượt tập thể, cá nhân được tặng Huân chương, Huy chương và các danh hiệu cao quý khác.

Phát huy truyền thống vẻ vang qua 65 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, lực lượng Công an nhân dân nguyện trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân Việt Nam, xiết chặt đội ngũ, tiếp tục nỗ lực phấn đấu vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giữ vững an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

(Nguồn Thành Đoàn TP.HCM)

Đọc tiếp →

23 tháng 6, 2010

Nguyễn Thông

Nguyễn Thông, tên chữ là Hy Phần, hiệu là Kỳ Xuyên, biệt hiệu là Độn Am, sinh ngày 28 tháng 5 năm Đinh Hợi (1827), tại thôn Bình Thanh, huyện Tân Thạnh, phủ Tân An, tỉnh Gia Định (nay là tỉnh Long An), mất năm Giáp Thân (1884), chôn ở núi Ngọc Sơn, xã Ngọc Lam, phủ Hàm Thuận (nay là thị xã Phan Thiết).
Thân phụ là Nguyễn Hanh người Tân Thạnh (tỉnh Gia Định), kết hôn cùng bà Trịnh Thị A Mầu nguyên quán ở Thừa Thiên, sinh hạ được hai trai là Nguyễn Thông và Nguyễn Hài.
Anh em hơn kém nhau hai tuổi, cùng học với cha ở nhà từ bé. Năm Nguyễn Thông mười tuổi thì mẹ mất, mười bảy tuổi thì cha mất. Gia đình gặp cảnh khó khăn, Nguyễn Thông phải lao động để giúp đỡ gia đình.
Rất ham học nhưng không có thầy, Nguyễn Thông đành phải cùng em tự học. Sau may mắn được học với ông Nguyễn Nhữ Hiền một thời gian ngắn (ông này được bổ đến Tân An không bao lâu lại trở về kinh).
Khoa 1849 (năm Kỷ Dậu, triều Tự Đức) Nguyễn Thông đỗ cử nhân, và thi hội bị đánh hỏng vì tập bài thi bị lấm mực. Đọc bài thi vì thấy văn tài của Nguyễn Thông, nhiều người khuyên nên tiếp tục học để thi khoa sau. Nhưng nhà nghèo không thể tiếp tục ngồi học, Nguyễn Thông nhận chức huấn đạo tại Phú Phong, tỉnh An Giang.
Sáu năm sau, năm 1855 ông ra Huế làm việc ở nội các tham dự soạn sách nhân sự kim giám (gương vàng soi việc người).
Năm 1859 quân Pháp đánh thành Gia Định, Nguyễn Thông tình nguyện tòng quân và đã giúp việc đắc lực cho thống đốc quân vụ Tôn Thất Hiệp.
Năm 1861 đại đồn Chí Hòa bị mất, kế đến tỉnh Biên Hòa bị chiếm, cậu ông là Trịnh Quang Nghi (có chiến đấu ở trận Chí Hòa) và bạn ông là Phan Văn Đạt mộ nghĩa binh chống quân Pháp ở Tân An và Gò Công. Ông tham gia phong trào ấy, may được thoát nạn, Phan Văn Đạt bị bắt giết. Còn Trịnh Quang Nghi qua năm sau giúp Trương Định rất đắc lực trong chức tham tán quân vụ.
Năm 1862, ba tỉnh miền Đông phải nhượng cho Pháp, nhờ cụ Phan Thanh Giản đề cử Nguyễn Thông được bổ làm Đốc học Vĩnh Long. Về Vĩnh Long, ông vẫn liên lạc với cậu mình (Trịnh Quang Nghị) vui buồn với cuộc chiến đấu của Trương Định, đồng thời liên lạc với các sĩ phu yêu nước, trong đó có những sĩ phu dời gia đình từ miền Đông sang. Những điều nghe thấy lúc này giúp ông dễ dàng viết lưu lại cho đời mấy bài ký về Phan Văn Đạt, Trương Định, Hồ Huân Nghiệp trong “Kỳ xuyên văn sao”.
Riêng đối với địa phương Vĩnh Long, Nguyễn Thông đã lưu lại những dấu ấn đậm đà, quý báu. Ông chủ động thực hiện bằng được việc xây dựng Văn Thánh Miếu dự trù từ nhiều năm trước. Cạnh Văn Thánh Miếu có dựng lầu Tụy Văn làm nơi chứa sách và học tập. Ông lại cùng Phan Thanh Giản khởi xướng việc dời mộ nhà giáo dục nổi tiếng ở lục tỉnh là Võ Trường Toản, từ Chí Hoà đưa cải táng về Bảo Thạnh (Ba Tri, Bến Tre này nay) vì lẽ đức nghiệp của ông thầy chung không để cho quân địch làm ô uế.
Sau này, Tụy Văn lâu đổi tên là Văn Xương Các và biến thành nơi thờ cụ Võ Trường Toản cùng các công thần khác.
Về tác phẩm, Nguyễn Thông còn lưu lại mấy bài thơ lên quan đến Vĩnh Long, đáng xem là những viên ngọc trong kho tàng văn học địa phương.
Bài “Lên lầu trên thành tỉnh Vĩnh Long” (1863) giữ cho ta được một chút hình ảnh thành xưa:

Vũ tễ đinh câu tập vãn cầm
Nhất thanh họa giác bán lâu âm
Thiên thiêu thành quách chu tạo tại
Đa nạn thân bằng khế khoát thâm (. . . )
Dịch:
Chim chiều về bãi tạnh cơn mưa
Im mát nữa lầu tiếng giốc đưa
Khối lửa vây thành lưu vết trước
Nạn tai rối bạn nặng tình xưa (. . . )
Năm 1867 trong bài thơ Đón Tết Đinh Mão ở Vĩnh Long, ông cho thấy mình vui cảnh nghèo và lòng vẫn thương ba tỉnh miền Đông:
Đinh Mão tân tuế tác
Nhất ngọa Long Giang chữ,
Niên hoa ngũ độ xuân
Tiệm khan nhi nữ đại,
Đầu giác mấn mao tân.
Quan dĩ trì tàng chuyết,
Thân tương kiệm bổ bần
Cố hương nhưng mã tại,
Cốt nhục chánh bi tân.
Dịch:
Thơ Tết năm Đinh Mão (1867)
Bãi Long Giang mới ngụ,
Chốc đã năm mùa xuân.
Trai gái dần khôn lớn,
Tóc râu vụt úa tàn
Chậm thăng che vụng dại,
Giỏi nhịn đỡ bần hàn
Quê cũ còn binh lửa,
Đồng bào đang khóc than.
Năm 1867, Pháp đã bức chiếm thành Vĩnh Long, lúc ấy Nguyễn Thông 41 tuổi, cùng một số sĩ phu “tị địa” ra Bình Thuận. Ông cùng các bạn bàn nhau việc điều tra địa thế, tìm căn cứ để tạo điều kiện liên lạc với Biên Hoà, đồng thời phát triển nghề nông, sản xuất lương thực lo kế lâu dài. Ông tổ chức việc đi thám hiểm các vùng cao nguyên La Ngư, Bà Dần, ghi rõ địa hình, địa thế khả năng khai hoang và vẽ rõ địa đồ. Sau đó ông bị điều động đi Khánh Hoà rồi Quảng Ngãi, Huế.
Cuối năm 1867 làm án sát Khánh Hòa, có dâng sớ xin truy tặng tên thụy cho cụ Phan Thanh Giản và điều trần bốn vấn đề ích nước lợi dân nhưng không được chấp thuận.
Năm 1870 làm Biện lý bộ hình rồi Bố chánh Quảng Ngãi. Đặc biệt ở Quảng Ngãi trong vòng non ba năm, ông đã làm nhiều việc có lợi cho nông dân, nhất là công tác thủy lợi. Lúc này ông mang một nỗi oan là bị tố cáo xử án thất xuất nên bị cách chức, bị giam và xử trượng. Dân và lính đều thương mến ông, đứng ra xin quan khâm sai Nguyễn Bính vừa đến Quảng Ngãi xét lại tội trạng của ông. Có người tự nguyện đến tận kinh thành kêu oan. Ông được tha. Sau rõ lại là do tên cường hào Lê Doãn vu cáo.
Có hai việc ông đề nghị được triều đình chấp thuận: tổ chức trồng cây và định rõ việc học sử cùng xin ban cấp sách học các trường.
Năm 1876, trở ra làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám, cùng các ông Bùi Ước, Hoàng Dung Tân Khảo duyệt bộ “Khâm Định Việt sử cương mục”. Nhân dịp này ông soạn bộ “Việt sử cương giám khảo lược”. Đồng thời ông dâng sớ (và được chuẩn y) việc khai khẩn vùng Tây Nguyên từ biên giới Campuchia đến Quảng Trị, thu nạp dân Nam Kỳ ra. Tiếc là bị quân Pháp phản đối nên triều đình ra lệnh bãi bỏ việc này.
Năm 1880 ông xoay qua bàn với các người đồng hương chánh thức lập Đồng châu xã, thời gian này ông làm phó sứ diễn nông kiêm Đốc học Bình Thuận. Ông dựng một ngôi nhà nhỏ bên cạnh sông Phan Thiết, đặt tên là Ngọa Du Sào, trên vách có vẻ một số cảnh tiêu biểu mà đời ông trải qua. Năm 1884 Nguyễn Thông mất (58 tuổi).
Nhìn chung, Nguyễn Thông là một người nghèo có chí tự học, trở thành một nhà nho thật lòng yêu nước thương dân, có tư tưởng tiến bộ, khác hẳn hạng xu nịnh đương thời.
Thơ văn của ông có giá trị về hình thức lẫn nội dung, được xếp về loại thơ văn yêu nước, và Nguyễn Thông xứng đáng là nhà văn hóa lớn của nước nhà.
Tác phẩm của Nguyễn Thông gồm có:
Ngọa Du Sào thi văn tập
Độn Am văn tập
Kỳ xuyên văn sao
Kỳ xuyên văn độc
Việt sử cương giám khảo lược
Nhân sự kim giám
Dưỡng chính lục
Chúng ta nhớ ơn Nguyễn Thông nhà hoạt động chính trị, xã hội, nhà giáo dục, nhà văn, nhà viết sử yêu nước, có quan điểm tiến bộ, đã đóng góp vào sự nghiệp cứu nước cũng như sự nghiệp phát triển kinh tế và văn hóa của Vĩnh Long và của cả đất nước ta.
(Nguồn Cổng điện tử Vĩnh Long)
Đọc tiếp →

Trần Văn Đang

Đội biệt động Sài Gòn đã đi vào sử sách của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy mưu trí và huyền thoại. Chiến công của các chiến sĩ biệt động thành là những trận đánh đầy tài trí và dũng cảm, thường có hiệu quả cao. Nếu chẳng may bị bắt, hy sinh, các chiến sĩ biệt động cũng để lại sự khâm phục với mọi người.
Trần Văn Đang là một trong số các chiến sĩ biệt động – mà cái chết đã trở thành bất tử trong năm 1965.
Trần Văn Đang bí danh là Sang, sinh năm 1942, ở xã Long Hồ - Châu Thành Tây - Vĩnh Long, nay là xã Long Phước, huyện Long Hồ tỉnh Vĩnh Long.
Đang xuất thân từ một gia đình nghèo khổ, mồ côi cha từ nhỏ, mấy mẹ con tần tảo nuôi nhau. Lớn lên, cảnh sống ở quê hương cùng cực, Đang phải lần bước lên Sài Gòn theo người chú kiếm sống qua ngày. Anh vào làm nghề phụ xe, rồi chuyển sang nghề thợ điện. Thời gian đầu mới bước vào nghề, Đang làm công cho một vài tiệm đồ điện ở Phú Nhuận, Gò Vấp rồi khi nghề nghiệp vững tay hơn, anh đi chữa điện dạo và sạc bình ắc quy.
Lúc chưa có gia đình, Đang thường tá túc trong nhà người chú ruột. Chú ruột anh là một đảng viên cộng sản hoạt động bí mật ở nội thành. Chính ông đã hướng dẫn Đang đi làm cách mạng và cũng chính ông đã đưa anh vào lực lượng vũ trang nội thành của đội biệt động Sài Gòn với bí danh là Sang. Lúc đó vào tháng 3/1964.
Qua một thời gian thử thách, học tập chính trị và quân sự tại căn cứ của đội ở Củ Chi, Trần Văn Đang được cấp trên giao nhiệm vụ đánh mìn Câu Lạc bộ sĩ quan Mỹ ở số 3 đường Võ Tánh, quận Tân Bình – Sài Gòn.
Tổ chức giao anh một chiếc xe gắn máy cùng 10 kg thuốc nổ TNT, phân công một người lái xe đưa anh đến điểm đánh mìn. Qua công tác điều nghiên nhiều ngày, Đang nắm được quy luật ra vào của bọn Mỹ ở “Câu lạc bộ sĩ quan”. Anh dự định dùng 10 kg thuốc nổ cực mạnh đó áp sát tường “Câu lạc bộ sĩ quan” phá tung cả khu nhà mà bọn sĩ quan và phi công Mỹ thường lui tới giải trí.
Điều không may cho Đang và tổ chức là tên lái chiếc xe chở anh đi đánh trận đó đã “chiêu hồi” mà anh vẫn chưa hay. Trước khi chở Trần Văn Đang đi, hắn đã mật báo cho cảnh sát ngụy quyền Sài Gòn về kế hoạch đánh mìn của Đang.
Khi chiếc xe dừng lại đến điểm trong kế hoạch tác chiến, anh đang lên dây đồng hồ báo nổ và cũng không quên gắn thêm một kíp nổ đề phòng đồng hồ trục trặc, thì bọn cảnh sát ập đến. Chúng bắt Trần Văn Đang ngay giữa trưa ngày 20/3/1965.
Chiều ngày 9/4/1965 trong một phiên tòa đặc biệt, Trần Văn Đang bị địch kết án tử hình.
Tại phòng giam của những người tử tù ở khám Chí Hòa, Đang đã sống những ngày đẹp nhất của cuộc đời người chiến sĩ biệt động thành. Anh được nhốt chung với Nguyễn Văn Hai tức Ba Thợ Mộc. Ba Thợ Mộc là một chiến sĩ biệt động thành đã tham gia trận đánh sứ quán Mỹ vào ngày 30/3/1963 và cũng bị Mỹ ngụy kết án tử hình. Hằng ngày Đang phải chăm sóc sức khỏe cho Ba Thợ Mộc do bị vết thương ở bụng chưa lành. Cùng chịu cảnh tử tù nhưng anh đã quên mình để chăm sóc cho bạn. Có thức ăn do mẹ đưa từ Vĩnh Long lên và do vợ con vào thăm Đang thường giành cho bạn để bạn chóng được lành vết thương.
Trong phòng biệt giam những người tử tù, Trần Văn Đang vẫn không nhận bất cứ một sự dụ dỗ nào của địch để khai báo tổ chức cho chúng, mặc dù anh biết ngày được sống sẽ không còn nhiều, vợ và 3 con anh còn vất vả, gieo neo khi anh hy sinh. Anh vẫn bình tĩnh, thản nhiên và không để lộ bất cứ một bí mật nào của đội biệt động cho bọn địch.
Đúng 5 giờ 30 ngày 22/6/1965, bọn gác ngục đưa Trần Văn Đang ra pháp trường. Dù biết cái chết đang gần kề từng phút anh vẫn không tỏ một thái độ nào run sợ. Từ phòng tử tù trên trên lầu xuống tầng trệt, anh ôm theo mọi đồ dùng cá nhân và ung dung đi ra pháp trường trong tư thế của người chiến thắng.
Địch đưa bữa cơm cuối cùng của người tử tù, anh từ chối, chỉ xin một bình trà nhỏ. Rồi thay áo quần sạch sẽ, anh ngồi uống trà hút thuốc, tóc chảy gọn gàng, đỉnh đạc trước khi địch thi hành lệnh xử bắn. Đồng bào Sài Gòn tập trung xung quanh khu vực chợ Bến Thành hôm đó hết sức xúc động và thán phục một chiến sĩ biệt động thành còn quá trẻ, đi đến pháp trường với một tư thế hiên ngang, không biểu lộ một chút hoang mang sợ hãi.
Khi toán cảnh sát đẩy anh đến trước cọc xử bắn, Trần Văn Đang la lớn: “Phải để tôi thấy đồng bào tôi”. Anh giằng co với bọn cảnh sát và yêu cầu được nói chuyện với đồng bào tập trung xung quanh trường bắn. Chúng không đáp ứng yêu cầu của anh. Anh không chịu bịt mắt và hô lớn “Đả đảo đế quốc Mỹ”, “Hồ Chủ Tịch muôn năm”, “Đả đảo đế quốc Mỹ”, “Hồ Chủ Tịch muôn năm”.
Bọn Mỹ ngụy sợ anh làm tác động đến đồng bào Sài Gòn Chợ Lớn ngày hôm đó nên chúng đã vội vã thi hành án tử hình ngay tức khắc, lúc đó là 5 giờ 50’ ngày 22/6/1965.
Cùng với Nguyễn Văn Trỗi, cái chết của chiến sĩ biệt động thành Sài Gòn Trần Văn Đang đã thức tỉnh hàng triệu người yêu nước dấy lên phong trào đấu tranh chống Mỹ - ngụy ngày càng mạnh mẽ, liên tục trên toàn miền Nam. Sự hy sinh của liệt sĩ Trần Văn Đang và thái độ anh dũng hiên ngang trước kẻ thù của anh đã tác động đến hàng triệu trái tim thanh niên Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Bác Hồ, lúc còn sống trong thư gởi thế hệ trẻ cả nước tháng 10/1966 đã động viên thanh niên cả nước học tập gương anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi và Trần Văn Đang.
Sau ngày đất nước thống nhất, vợ và các con anh vẫn ở lại sinh sống tại quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang cho liệt sĩ Trần Văn Đang ngày 6/11/1978. Anh cũng được truy tặng Huân chương Chiến công hạng I.
(Nguồn Cổng điện tử Vĩnh Long)

Đọc tiếp →

Ngày báo chí cách mạng Việt Nam 21-6

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới cũng là một nhà báo xuất sắc, người sáng lập ra nền báo chí Cách mạng Việt Nam
Ngày 21/6/1925 tại Quảng Châu (Trung Quốc), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập ra tờ báo Thanh niên - cơ quan của tổ chức Thanh niên Cách mạng Việt Nam. Đây là tờ báo Cách mạng Việt Nam đầu tiên do Bác Hồ sáng lập, chỉ đạo và là người biên tập chính. Báo Thanh niên, với 88 số, mở ra lớp đào tạo 300 cán bộ đều do Bác Hồ khởi thảo, chủ trì, giảng dạy là sự mở đầu một cuộc Cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH.
Bác Hồ bắt đầu sự nghiệp Cách mạng bằng việc viết báo Cách mạng kiểu mới, Mác xít Lê Nin Nít. Người sáng lập nền báo chí Cách mạng kiểu mới ở nước ta. Báo Thanh niên lúc đó đã mở một đột phá về thế giới quan, tư tưởng chính trị, quan niệm về báo chí, đối tượng, phong cách. Nói khái quát là mở đầu cuộc Cách mạng tư tưởng, đưa nền tảng tư tưởng truyền thống của dân tộc mình lên một tầm cao mới. Người Việt Nam được tiếp cận với khoa học, sử dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Lần đầu tiên ở nước ta, tư tưởng giải phóng dân tộc gắn liền với tư tưởng giải phóng xã hội. Quần chúng lao động là chủ thể quan trọng nhất của Cách mạng kết hợp với giới tinh hoa của dân tộc, được truyền bá rộng rãi. Đây cũng là lần đầu tiên lợi ích đất nước, lợi ích quần chúng trở thành nội dung, đề tài trung tâm của báo chí. Quần chúng có báo của mình. Viết cho quần chúng lao động, báo Cách mạng phải đi sát cuộc sống quần chúng, xuất phát từ thực tiễn, hướng dẫn hành động của quần chúng, cải thiện, cải tạo cuộc sống của mình và của đất nước.
Bác Hồ sáng lập và bằng chính những tờ báo, bài báo do Bác chủ trì và viết, sáng lập phong cách văn chương báo chí của quần chúng: giản dị, dễ hiểu mà sâu sắc. Người viết nhiều thể loại văn học và báo chí: tin ngắn, dài, tin bình, chính luận, trào phúng, ký, tuyên ngôn, hiệu triệu, thơ tự sự, trữ tình. Văn chương của Người thể hiện phong cách Đông Tây, cổ kim Việt hóa, phảng phất phong cách của Chiếu dời đô, Hịch Tướng sĩ, Quân trung từ mệnh, Chiếu lên ngôi và Thượng kinh ký sự, Vũ trung tùy bút. Từ ngữ giản dị mà hàm ý sâu sắc. Những áng hùng văn của Bác như: Lời kêu gọi của Nguyễn ái Quốc, Tuyên ngôn độc lập, Lời kêu gọi kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, đặc biệt là bản Di chúc, thật trong sáng và giản dị!
Bác Hồ đặt nền móng cho nền báo chí nước ta. Người viết báo suốt cả đời Cách mạng từ năm 1919 đến năm 1969. Bài báo cuối cùng của Bác là: Nâng cao đạo đức Cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Phong cách văn chương của Bác được người đời phát hiện rất sớm. Năm 1924, một nhà văn hóa nổi tiếng của Liên Xô đã nhận xét: Nguyễn Ái Quốc là một nhà văn hóa lớn của tương lai. Phong cách viết báo của Người thường đi thẳng vào đề, làm rõ tư tưởng trung tâm sự kiện bằng ngôn ngữ giản dị, ngắn gọn, ngôn ngữ thông tin đại chúng.
Bản sắc văn chương báo chí Cách mạng Việt Nam thể hiện nổi bật ở Chủ tịch Hồ Chí Minh - một nhà báo kiệt xuất.
(Nguồn Nét đẹp Việt)
Đọc tiếp →

27 tháng 5, 2010

Nữ sĩ - công chúa Ngọc Hân (1770-1799)

Ngọc Hân công chúa là con gái thứ 21 của vua Lê Hiển Tông (1740-1786). Mẹ là bà Chiêu Nghi Nguyễn Thị Huyền, người xã Phù Ninh, tổng Hà Dương, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh. Vua Lê Chiêu Thống gọi công chúa Ngọc Hân là cô ruột. Công chúa thông minh từ bé, diện mạo thanh tú, xinh xắn. Bản tính thùy mị dịu dàng. Được vua cha yêu quí đặt tên là Chúa Tiên và truyền cho nữ quan Lễ sư vào cung rèn cặp chữ nghĩa cho công chúa cùng dạy đủ môn: cầm, kỳ, thi, họa.
Chưa đầy 10 tuổi, công chúa đã thuộc làu kinh điển, thông thạo âm luật, giỏi thơ văn cả Hán lẫn Nôm, nhưng có sở trường về văn thơ Nôm.
Nữ sĩ công chúa thường cùng bà Lễ sư khi ngâm vịnh xướng họa, lúc đàn sáo véo von, hoặc thù tạc vui quân tướng sĩ.
Càng lớn, công chúa càng xinh đẹp nết na, duyên dáng đức hạnh, được tiếng thơm khắp hoàng cung; mọi người đều quí trọng.
Năm 1786 Bắc Bình vương Nguyễn Huệ đem quân tiến ra Bắc với danh nghĩa "Phù Lê diệt Trịnh", được vua Lê Hiển Tông phong tước "Phù chính dực Vũ uy Quốc Công" và gả công chúa Ngọc Hân mới 16 tuổi cho ông.
Sau hôn lễ con gái chẳng bao lâu, bỗng nhiên nhà vua bị bạo bệnh băng hà.
Đợi xong thất tuần vua cha, công chúa Ngọc Hân theo chồng về Phú Xuân, ở phủ Bắc Bình Vương.
Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế lấy hiệu Quang Trung, phong Ngọc Hân là Bắc cung Hoàng hậu, còn gọi Hữu cung Hoàng hậu.
Lấy chồng được sáu năm, công chúa Ngọc Hân sinh hạ hai người con. Năm 1792, vua Quang Trung đột ngột qua đời. Sau tang lễ, bà đau buồn âm thầm đặt riêng một lễ ở Hữu cung, đọc bài Văn tế tự soạn để khóc chồng! Thật là một chuỗi lâm li bi thiết, ví như:
"… Một phút mây che vừng Thái Bạch,
Trong sáu cung thoắt đã nhạt hơi hương.
Tơ đứt tấc lòng ly biệt.
Châu sa giọt lệ cương thường…
Và:
"… Liều trâm thoa mong theo chốn chân dung, da tóc trăm thân nào có tiếc.
Ôm cưỡng bảo luống ngập ngừng di thể, sữa măng đôi chút lại thêm thương".
(Trích Văn tế)
Tiếp đó, bà còn sáng tác thêm "Ai tư vãn" bằng văn quốc âm, thể song thất lục bát, dài 164 câu. Toàn bài tác giả đã vận dụng lời lẽ thật tha thiết mà rất chân thành, rất xúc động từ câu mở đầu:
"Gió hiu hắt, phòng tiêu lạnh lẽo
Trước thềm lan hoa héo ron ron!
Cầu Tiên khói tỏa đỉnh non
Xe rồng thăm thẳm, bóng loan rầu rầu
Lúc thì chạnh nghĩ mối duyên may mình đã được trải qua:
"… Rút dây vâng mệnh phụ hoàng
Thuyền lan chèo quế thuận đường vu qui
Trăm ngàn dặm quản chi non nước
Chữ nghi gia mừng được phải duyên
Sang yêu muôn đội ơn trên
Rỡ ràng vẻ thúy, nối chen tiếng cầm…
(Trích Ai tư vãn)
Khi lo lắng thuốc thang cho chồng (vua Quang Trung):
"Từ nắng hạ, mưa thu trái tiết
Xót mình rồng mỏi mệt chẳng yên
Xiết bao kinh sợ lo phiền
Miếu thần đã đảo, thuốc tiên lại cầu
Khắp mọi chốn đâu đâu tìm rước
Phương pháp nào đổi được cùng chăng?
Nữ sĩ Hoàng hậu Ngọc Hân bị bệnh mất ở Phú Xuân năm Kỷ Tị (1799). Bà mất sau vua Quang Trung 7 năm, được tôn Miếu hiệu là Như Ý Trang Thận Trinh Nhất Vũ Hoàng Hậu. Lúc đó triều đình cử danh sĩ Phan Huy Ích soạn 5 bài Văn tế bằng Quốc âm để tế Hoàng hậu Ngọc Hân. Đầu tiên là bài cho vua Cảnh Thịnh đứng tế, trong có đoạn:
"… Giọt ngân phái câu nên vẻ quí, duyên hảo cầu thêm giúp mối tu tề; Khúc thư châu thổi sánh tiếng hòa, khuôn nội tắc đã gây nền nhân nhượng".
"Hồ đỉnh ngậm ngùi cung nọ, những rắp chìm châu nát ngọc vốn từng nguyền; Cung khôn bận bịu gối nao, ép vì vun quén quế lan nên hãy gượng.
"Nẻo thuở doành Hoàng phô vẻ, trau vàng chuốt ngọc vẹn mười phân; Trải phen bến Vỵ đưa duyên, phím sắc xoang cầm vây một thể.
"Dầu gót ngọc vui miền Tịnh độ, nỡ nào quên hai chồi lan quế còn thơ. Dẫu xiêm nghe mến cảnh Thanh Đô, nỡ nào lãng một bóng tang du hầu xế…".
Còn lại 4 bài văn tế nữa, dành cho các vị:
- Mẹ Hoàng Hậu Ngọc Hân là Phù Ninh từ cung đứng tế.
- Các công chúa con gái vua Quang Trung đứng tế.
- Bà con quê ngoại ở Phù Ninh đứng tế.
Theo Quách Tấn, trong "Dụ am văn tập" của danh sĩ Phan Huy Ích còn chép đầy đủ bài Văn tế Vũ Hoàng Hậu cùng năm mất của bà là 1799.
Thế nhưng lại có một vài nhà viết sử, văn học sử đã nêu hai giả thuyết khác nhau không có cứ liệu chính xác:
- Nào là: "Ngọc Hân công chúa bị Gia Long bắt truyền nạp vào hậu cung! ... và bà có thêm 2 con với vua Gia Long…".
- Nào là khi thành Phú Xuân thất thủ, Hoàng hậu Ngọc Hân cùng 2 con cải trang dắt nhau chạy vào Quảng Nam ẩn náu; ngay sau đó cả 3 mẹ con bị bắt và bị triều nhà Nguyễn gia hình được tự chọn cái chết trong tam ban triều điển! ...".
Xin nói niên lịch bà Hoàng hậu Ngọc Hân mất là năm Kỷ Tỵ (1799). Cách hai năm sau, Chúa Nguyễn Phúc Ánh mới lấy được thành Phú Xuân, đó là năm Tân Dậu (1801).
Nhà Nguyễn diệt nhà Tây Sơn năm Nhâm Tuất (1802).
Như vậy bà Ngọc Hân không hề lấy vua Gia Long bao giờ, vì bà đã mất trước khi nhà Nguyễn chiếm ngự Phú Xuân.
Phần văn chương trong Ai tư vãn của nữ sĩ Hoàng hậu Ngọc Hân, nhiều nhà nghiên cứu đã nhận xét: "… văn phong vừa điêu luyện vừa bình dị…".
Ta còn thấy rõ từng nét đau đáu tha thiết của một góa phụ trẻ trung vương giả. Mặt khác còn nổi bật tình nhà, tình nước, sểnh đàn tan nghé! nỗi nước chông chênh!
Và điều rõ nét nhất ta thấy được ở tác giả Ai tư vãn: bà đã chịu ảnh hưởng rất nhiều của Chinh phụ ngâm.
Riêng bài Văn tế của nữ sĩ Hoàng hậu Ngọc Hân lại mang nặng tính chất bác học. Văn vẻ sắc bén vững vàng; chứng tỏ được tài Hán văn của bà.
Bà xứng danh là bậc nữ lưu văn học uyên bác ở cuối thế kỷ 18.
(Nguồn. Theo Địa chí Bình Định)
Đọc tiếp →

15 tháng 5, 2010

Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh (15/5/1941)

Ngày 6 tháng 3 năm 1926:
Trong “Báo cáo gửi Quốc tế cộng sản, đồng chí Nguyễn Ái Quốc (tức Bác Hồ kính yêu sau này) đã thông báo ở mục 3 là Bác đã: “Tổ chức một tổ thiếu nhi (7) lựa chọn trong con em nông dân và công nhân…”

Trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 - 1931:
Đã xuất hiện Đội Đồng tử quân tham gia đấu tranh lập chính quyền Xô Viết ở Nghệ Tĩnh.

Ngày 15-5-1941:
Tại Nà Mạ (Xuân Hòa – Hà Quảng – Cao Bằng) Tổ chức thiếu niên đầu tiên của đội được thành lập gồm 5 đội viên, do Kim Đồng là tổ trưởng.

Sau ngày 19-8-1945:
Tại thủ đô Hà Nội, hàng loạt Đội thiếu niên, nhi đồng cứu quốc ra đời. Nổi tiếng là các Đội: Hoàng Văn Thụ, Mai Hắc Đế.

Ngày 19-5-1956:
Diễu hành lớn của thiếu nhi toàn thành Hà Nội đến Phủ chủ tịch mừng ngày sinh lần thứ 56 của Bác Hồ được tổ chức lần đầu tiên ở nước ta.

Tháng 2-1948:
Bác Hồ gửi thư hướng dẫn thiếu nhi nước ta làm công tác Trần Quốc Toản. Từ đấy, công tác Trần Quốc Toản ra đời và trở thành một phong trào rộng lớn, lâu dài.

Tháng 3-1951:
Đội thiếu nhi cứu quốc đổi tên thành Đội thiếu nhi Tháng Tám.

Trung thu năm 1954:
Sau cuộc kháng chiến chống Pháp. Bác Hồ viết thư khen ngợi thiếu niên nhi đồng cả nước.

Ngày 4-11-1956:
Sau Đại hội Đoàn lần thứ II, Đội đổi tên là Đội thiếu niên tiền phong.

Năm 1958:
Mở đầu phong trào “Kế hoạch nhỏ” “Hợp tác xã măng non”.

Ngày 15-5-1959:
Đội TNTP nhận là cờ của BCH Trung ương Đảng thêu hàng chữ: “Vì sự nghiệp xã hội chủ nghĩa và thống nhất Tổ quốc – Sẵn sàng!”

Ngày 19-3-1961:
Các em ở lứa tuổi nhi đồng được tổ chức riêng vào Đội Nhi đồng tháng 8.

Ngày 15-5-1961:
Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập Đội TNTP, Bác Hồ gửi thư dặn các cháu 5 điều:
1. Yêu tổ quốc, yêu đồng bào.
2. Học tập tốt, lao động tốt.
3. Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt.
4. Giữ gìn vệ sinh thật tốt.
5. Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm.

Ngày 24-3-1963:
Mở đầu phong trào “Nghìn việc tốt” thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy. Sáng kiến này được phát động từ xã tam Sơn, Tiên Sơn, Hà Bắc từ năm 1961.

Ngày 15-5-1966:
Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 25 ngày thành lập Đội, thay mặt Trung ương Đảng và Bác Hồ, Bác Tôn Đức Thắng đã trao tặng Đội là cờ theu dòng chữ;
“Vâng lời Bác dạy
Làm nghìn việc tốt
Chống Mỹ cứu nước
Thiếu niên sẵn sàng!”

Tháng 5-1969:
Bác Hồ gửi thư khen hợp tác xã măng non Phú Mãn (Hà Bắc) về thành tích chăm sóc trâu, bò béo, khỏe.

Ngày 1-6-1969:
Bác Hồ gặp mặt các cháu thiếu nhi tại Phủ Chủ tịch. Đây là lần gặp các cháu cuối cùng trước ngày Bác đi xa.

Ngày 30-1-1970:
Ban chấp hành Trung ương Đảng quyết nghị cho Đoàn TNCS, Đội TNTP và Đội nhi đồng được mang tên Bác Hồ vĩ đại.

Tháng 6-1976:
Đội mang khẩu hiệu mới: “Vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì lý tưởng của Bác Hồ vĩ đại – Sẵn sàng!”

Tháng 12-1976:
Theo sáng kiến của thiếu nhi thành phố Hồ Chí Minh, thiếu nhi cả nước phát động phong trào “Thu lượm 4 triệu ki-lô-gam giấy loại và lao động tiết kiệm lấy tiền đóng đoàn tàu mang tên Đội”.

Tháng 7-1977:
Đoàn đại biểu toàn quốc của Đội đi dự “Đại hội liên hoan thiếu nhi thế giới lần thứ nhất” tại Mát-xcơ-va (Liên Xô).

Ngày 28-7-1978:
Họp mặt toàn quốc lần thứ I các chiến sĩ làm công tác Trần Quốc Toản tại Hà Nội.

Ngày 31-12-1978:
Hoàn thành đoàn xe lửa mang tên Đội.

Ngày 14-11-1979:
Quốc hội Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra pháp lệnh về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em.

Ngày 20-11-1980:
Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ IV khai mạc, ra quyết định thành lập “Hội đồng phụ trách Đội TNTP Hồ Chí Minh và Đội Nhi đồng Hồ Chí Minh” (gọi tắt là: Hội đồng Đội).

Từ ngày 21 đến ngày 23-8-1981:
Đại hội cháu ngoan Bác Hồ toàn quốc lần thứ nhất đã tiến hành tại Thủ đô Hà Nội.

Năm học 1983-1984:
Phát động cuộc hành quân theo bước những người anh hùng.

Từ ngày 2 đến ngày 11-7-1984:
Họp mặt “các chiến sĩ nhỏ Điện Biên” toàn quốc tại Thủ đô Hà Nội.

Từ ngày 21 đến ngày 29-6-1985:
Họp mặt “Cháu ngoan Bác Hồ - chiến sĩ nhỏ Giải phóng quân” năm 1985 tại thành phố Hồ Chí Minh.
Phát động đợt hành quân “Theo chân Bác” 1985 – 1986 với từng đợt cho từng năm và kết thúc vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Bác Hồ (19 tháng 5 năm 1990).

Từ ngày 1-7 đến 9-7-1986:
Đại hội cháu ngoan Bác Hồ toàn quốc lần thứ 2 được tổ chức ở Hà Nội và Hải Phòng với 270 đại biểu cháu ngoan Bác Hồ.

Từ ngày 30-6 đến ngày 4-7-1990:
Nhân kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Bác Hồ, Đại hội cháu ngoan Bác Hồ lần thứ 3 được tổ chức ở Hà Nội và Nghệ An với 189 đại biểu cháu ngoan Bác Hồ.

Từ ngày 27-6 đến 1-7-1992:
Cuộc họp mặt “Thiếu nhi nghèo vượt khó” được tổ chức ở Hà Nội và Thanh Hóa với 175 đại biểu thiếu nhi. Từ cuộc họp mặt này Quỹ thiếu nhi nghèo vượt khó ra đời nhằm giúp các bạn nghèo vượt khó học giỏi, công tác Đội tốt.

Từ ngày 2-7 đến 7-7-1993:
Cuộc họp mặt thiếu nhi các dân tộc được tổ chức ở Hà Nội và Hải Phòng với 170 em đại diện cho 44 dân tộc về dự.
(Nguồn Hội đồng Đội Thành phố)
Đọc tiếp →